Trường em tây tiến
dss

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hà Thị Tâm
Ngày gửi: 21h:38' 03-11-2024
Dung lượng: 527.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hà Thị Tâm
Ngày gửi: 21h:38' 03-11-2024
Dung lượng: 527.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
SỔ TAY DƯỠNG SINH
OHSAWA
TỶ LỆ QUÂN BÌNH TRONG MỘT NGÀY:
Khoảng từ 70- 90% đồ ngũ cốc nguyên
cám, từ 30-10% rau củ xào, kho và hấp
- Ngũ cốc gồm : Lúa mì, gạo lứt, kê, bắp,
bo bo, lúa mạch, đại mạch, hắc mạch, kiều
mạch, v.v…
- Các loại rau quả và gia vị nên dùng:
+ Cà rốt, củ cải, bí ngô, hành tỏi, kiệu
tây, bắp su trắng, rau dền, rau xà-lách-son,
rau má, rau bồ ngót, cải bẹ xanh v.v… (rau
củ mọc thiên nhiên và rau củ sạch không sử
dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu).
1
+ Nước uống: Nước thiên nhiên, trà
Bancha, trà gạo lứt, trà củ sen, trà bồ công
anh, đậu đỏ rang + gạo lứt rang.
+ Chất béo: Dầu mè, dầu phộng (mức
tối đa là một muỗng canh dầu một người
một ngày).
+ Trái cây: Trái gấc, dâu tây, hạt dẻ,
trái cây thiên nhiên và đúng mùa, trái táo.
+ Đường: Nếu sức khỏe ổn định thì có
thể sử dụng đôi chút đường đen, đường thốt
nốt, đường phèn, mạch nha.
2
NHỮNG THỨC UỐNG, MÓN ĂN NÊN
TRÁNH DÙNG ĐẾN LÀ:
+ Tất cả các loại cà, măng, giá, nấm,
khoai tây, đậu leo, rau bá hợp, dưa gang, bắp
su đỏ, củ cải đường.
+ Bơ, sữa, đồ ăn chế bằng phó-mát.
+ Trái cây: Các đồ ăn tươi sống và đường
(trong lúc đang trị bệnh).
+ Gia vị: Tiêu, ớt, cà-ri.
+ Nước uống: Luôn luôn uống nước ấm
(khoảng 370C) và khoảng 3 xị (0,75 lít) trở
lại mỗi ngày.
SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý:
- Về tâm trạng: Không vui, không khỏe
thì không nên ăn và cũng không được nấu ăn.
3
- Về đại tiện:
phân luôn màu vàng,
chặt, không rã nát và đúng giờ vào buổi sáng.
Nếu là phân khác thì âm hơn, hoặc dương
hơn thì cần phải điều chỉnh lại.
- Về tiểu tiện: Phụ nữ không đi tiểu quá
3 lần trong ngày. Nam không đi quá 4 lần
trong ngày.
Lưu ý: Đường ruột đang tốt là một ngày
chỉ đi đại tiện một lần vào buổi sáng và chỉ
nên súc miệng một lần vào buổi tối (bột chà
răng Dentie).
- NƯỚC UỐNG: Một người quá âm, hay
bệnh về gan thì nên sử dụng trà gạo lức rang
và trà bồ công anh.
4
- Trà củ sen tốt cho người bệnh phổi. Trà
Bancha tốt cho bệnh tim mạch, đường ruột,
bao tử (tốt nhất là được sự hướng dẫn của
người có kinh nghiệm đã sử dụng từ trước
hoặc Thầy).
- DẦU MÈ GỪNG: Giã nát, hoặc mài
gừng tươi, vắt lấy nước cốt trộn đều với một
lượng dầu mè tương đương. Dùng xoa hay
đánh gió khi cảm sốt, xoa bóp khi nhức mỏi,
tức, trặc, đau bụng, sưng u, bôi lên vết lở ở
tai, mũi, ghẻ lác, xức dầu trị gầu và rụng tóc,
chỉ nên làm vừa dùng trong 2-3 ngày, vì để
lâu gừng thối, có mùi khó chiụ, có thể dùng
xen kẽ với áp nước gừng.
- CAO HẠ NHIỆT: Ngâm đậu nành với
5
nước cho mềm, giã nát và trộn thêm ít bột
cho khỏi nhão rồi đem đắp lên trán để hạ sốt,
(xem chừng thân nhiệt hạ còn 38,50C thì lấy
ra ngay) hoặc đắp những chỗ viêm nhức
(không dùng trong trường hợp ban, sởi, tót,
rạ, đậu mùa).
- BỘT GẠO LỨT SỐNG:
Nhai nhỏ gạo lứt sống và hạt muối sống,
hoặc giã thành bột mịn trộn nước và tí muối
cho dẻo, đem đắp vào vết thương, vết lở loét,
ghẻ chốc.
NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG
DƯỠNG SINH
Trị liệu theo phương pháp Thực Dưỡng
6
thiên về giáo dục, chữa con người hơn là
chữa bệnh. Nghĩa là giúp bệnh nhân tự suy
xét lại bản thân mình về mọi mặt từ thể chất
đến tinh thần, hầu tránh đi những việc làm
có hại cho mình và cho người khác, đồng
thời tổ chức được một nếp sống lành mạnh,
vui tươi và hữu ích hơn. Bởi vậy, nếu sử
dụng phương pháp Thực Dưỡng thuần túy
để chữa bệnh có tính cách tạm thời, thường
sẽ không thành công theo ý muốn, sau đây là
một số trở ngại cho việc áp dụng phương
pháp này trong trị liệu:
1.QUÁ MUỘN: Đối với những trường
hợp quá muộn, nghĩa là cơ thể đã suy thoái
trầm trọng, ví dụ như đến mức cùng thì
7
phương pháp Thực Dưỡng, một đường lối trị
bệnh dựa vào cơ thể miễn nhiễm tự nhiên,
có thể không đủ thời gian cứu con bệnh. Tuy
nhiên, nếu áp dụng phương pháp này, những
bệnh nhân quá muộn vẫn hưởng được nhiều
lợi ích như không bị đau đớn hành hạ và ra
đi êm thắm.
2. THIẾU NIỀM TIN VÀ Ý CHÍ: Nếu
không tin tưởng tuyệt đối vào những hướng
dẫn của phương pháp này, bệnh nhân rất dễ
sai phạm hoặc bỏ dỡ nửa chừng do ý kiến
của những người không am hiểu vấn đề,
hoặc dễ bị lôi cuốn bởi những món ăn thức
uống.
8
3. THIẾU NGHIÊN CỨU: Niềm tin và
ý chí được củng cố qua sự nghiên cứu lý
thuyết sách báo Thực Dưỡng và học hỏi
những người có kinh nghiệm, nhất là những
người đồng bệnh đã và đang theo phương
pháp này. Đồng thời phải lưu tâm theo dõi
những chuyển biến của cơ thể và vận dụng
những điều đã nghiên cứu, học hỏi để lấy
kinh nghiệm cho bản thân.
4. KHÔNG
THÂN
NHÂN
ĐƯỢC
GIA
ĐÌNH,
HỖ TRỢ: Nếu những
người trong gia đình bệnh nhân, nhất là
những người có phận sự chăm sóc trực tiếp
không hiểu biết, hoặc không đồng tình ủng
hộ, thì có thể vì lòng “thương” sẽ làm “hại”
9
diễn tiến cải thiện sức khỏe theo Phương
pháp Thực Dưỡng.
5. NHỮNG SAI LẦM KHÁC: Ngoài
những sai lầm đã nói như: nhai không kỹ, ăn
nhiều, uống nước nhiều, nhịn ăn không cẩn
thận, v.v… Người mới thực hành thường
mắc một số sai lầm khác như:
- Dương quá độ: Nhiều người lầm tưởng
yêu cầu của Thực Dưỡng là “càng dương
càng tốt”, nên ra sức ăn thật mặn, cố nhịn
nước dù khát, vận động thể lực tối đa, hoặc
ăn toàn các món nướng, rang, chiên dù đang
trong mùa hè v.v… Sự việc này có thể vượt
mức chịu đựng của cơ thể, gây ra tình trạng
kiệt sức, hoặc những phản ứng mãnh liệt
10
dẫn đến sự “phá giới” vô cùng nguy hiểm.
Các bạn nhớ cho chủ trương của phương
pháp Thực Dưỡng là quân bình và điều độ.
- Không biết linh động: Thường đây là
những người không chịu đọc sách báo Thực
Dưỡng và thiếu tìm hiểu thực tế. Ví dụ trẻ
con và người già răng yếu không biết nấu
nhừ, hoặc xay, giã nhỏ vật thực trước khi ăn,
hoặc không biết chế biến thực phẩm cho dễ
ăn, hoặc có người cứ ăn mãi gạo lứt muối
mè lâu ngày sinh chán, v.v….
11
Trong vũ trụ này, mọi sự vật đều vận
động và biến hóa không ngừng, nào ngày
đêm đắp đổi, nào bốn mùa luân chuyển, khi
nắng khi mưa và cuộc sống con người cũng
đa dạng. Vì vậy để có thể tồn tại, sống vui
qua năm tháng của đời người, chúng ta
không nên đóng khung vào một khuôn mẫu
hoặc một công thức cố định, mà phải biết
thích ứng với mọi đổi thay, khác biệt của
từng cá nhân theo thời gian và không gian.
Đồng thời cũng nên biết không có hiện
tượng nào thuần Âm hoặc thuần Dương, mà
bao gồm cả Âm lẫn Dương. Trong sinh hoạt
hàng ngày cũng như trong chữa trị bệnh,
chúng ta tuân theo nguyên lý này; lẽ dĩ
nhiên có lúc Dương hơn và có lúc cần Âm
hơn.
12
Phép Dinh Dưỡng Cần Được Tuân Thủ
Triệt Để Từ Ba Tuần Đến Một Tháng
Vài phản ứng có thể xảy ra cần được biết
đến vào thời kỳ đầu sau khi áp dụng phương
pháp dinh dưỡng này:
- Cảm giác suy nhược, cảm thấy chân bị
bại liệt từng phần, do nơi nguồn gốc tâm
linh và cũng do nơi giảm thiểu số lượng
huyết dịch lưu thông trong cơ thể, sau
khoảng 15 ngày đến 1 tháng, trạng chứng
này sẽ mất đi.
- Thường tim đập chậm lại, nhất là khi ta
dùng một số lượng muối khá nhiều, vô hại.
- Đau đầu thường xảy ra vào những ngày
đầu trong thời gian ăn số 7.
13
- Trạng thái buồn nôn, cũng thường hay
mửa cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm
(nói chung các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại.
cứ ăn ít lại, vài ngày sau sẽ ăn ngon trở lại,
vẫn cứ làm việc như bình thường.
- Chảy máu cam, máu mũi, đôi khi thổ
huyết, hoặc tiện huyết (phân có vấy máu).
Cũng gặp trường hợp chảy máu tai; hầu hết
các trạng thái khủng hoảng này đều được cải
thiện sau đó.
- Nhất là ở thiếu nữ thường có sự ngưng
chỉ kinh nguyệt, thay đổi từ 1 đến 6 tháng,
sau đó kinh nguyệt sẽ trở lại.
- Về phía nam giới, đôi khi có trạng
chứng bất lực trong một thời gian ngắn, có
thể cũng cùng một trạng chứng như trên.
14
- Rất thường xảy ra trường hợp táo bón
vào lúc đầu do nơi sự thiếu nước và do sự
giảm thiểu số lượng thực phẩm, nhưng
không có gì đáng quan tâm, chớ dùng thuốc
nhuận trường, không có nguy hại vì không
có chất đạm động vật. Chịu khó chờ đợi, sự
đi tiêu sẽ được điều hòa trở lại. Trong một
thời kỳ nào đó, phân không có mùi hôi thối
gì cả.
- Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn
xuống.
- Ở những người mắc bệnh phong thấp
thường có sự gia tăng đau nhức và sưng
khớp xương tạm thời.
15
- Về phương diện tinh thần, hình như
luôn có một thời kỳ hay nổi xung (dễ phát
cáu), chán đời do một số nơi cảm giác khát
nước đến bắt khó chịu. Người ta thường hay
bỏ cuộc vào thời kỳ này, việc rất thường
thấy; cần phải tiên liệu trước để chịu đựng.
- Giấc ngủ bị rút ngắn lại, thường có
mộng mị liên miên vào lúc đầu, đôi khi rất
nhanh; nhưng trái lại, không hề có sự mất
ngủ.
- Thường thường nước tiểu có màu rất
đậm và chứa nhiều chất lạ. Cả đến khi khối
lượng nước tiểu trong trở lại, nhưng vẫn
phải giữ cho được màu vàng sẫm. Đôi khi có
trường hợp sưng bọng đái nhẹ.
16
- Đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình
lình trong vòng 24 - 48 giờ, rồi dứt đi cũng
thình lình như thế mà không thấy có dấu
hiệu chi hết.
- Mặc dù có cảm giác mệt mỏi lúc đầu,
cũng cần phải tiếp tục công việc và cố gắng
tập một vài cử động thể dục hàng ngày.
- Sự tiếp tục dùng thức ăn thuộc động
vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối
thêm sẽ rất có hại.
GIẢI ĐÁP MỘT SỐ THẮC MẮC THÔNG
THƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN TÂM TRẠNG
- Ngại thiếu chất đạm thuộc động vật ?
17
Các chất đạm thực vật đã có đủ, các
amino acid trong loại ngũ cốc và rau quả
như: biển đậu, đậu xanh chẳng hạn đủ bổ túc
cho sự thiếu thốn ấy.
Một vài loại thảo mộc có giá trị bổ túc
cho đồ ăn ngũ cốc hơn hẳn các món ăn thịt
cá, hoặc sữa như bánh dầu mè (xác mè sau
khi ép lấy dầu rồi), hay xác dầu hướng
dương (14) (công cuộc khảo cứu của bà
Randouin). Nó chỉ thua có mỗi một thứ chất
đạm ở trứng mà thôi. Các đồ ăn bổ túc cho
loại ngũ cốc là những đồ ăn mang tới cho cơ
thể những chất không có trong ngũ cốc.
- Sợ thiếu sinh tố C chăng ?
Các cuộc khảo cứu thảo mộc mới đây ở
18
Nhật và ở Anh đã chứng tỏ rằng trong các
loại ngũ cốc (provitamin C) sự chịu nóng tới
ngoài 150oC và cơ thể người ta có thể tổng
hợp và huyển hóa nó thành sinh tố C.
Ngoài ra trong các thức ăn, thực dụng
như ngò tây và bồ công anh chẳng hạn,
người ta cũng nhận thấy có nhiều sinh tố C
trong cám hay cà chua và được kèm với một
hàm lượng phong phú tương đương sinh tố
A. Các sinh tố khác thì đều có đầy đủ cả.
Đại loại như sinh tố B và PP có nhiều trong
các loại ngũ cốc và sinh tố E trong mầm ngũ
cốc. Về sinh tố D thì trong mầm các loại ngũ
cốc còn nguyên cám và trong bột kiều mạch.
19
Còn lại các sinh tố thuộc nhóm F do nơi
các acid béo không bão hòa trong các loại
dầu thảo mộc sinh ra. Các acid béo giúp đắc
lực cho sự biến hóa chất Cholesterol ở cơ
thề người. Các thức loại nên dùng: dầu mè
(vừng), dầu hướng dương (18) và cả dầu
ôliu nữa. Trong các chất béo có nguồn gốc
động vật (mỡ heo, bò,…) và chất magarine
đều có tác dụng độc hại. (Công cuộc khảo
cứu của bà Randouin đăng tải trong Kỷ Yếu
của Viện Vệ Sinh Thực Phẩm năm 1957).
- Nghi ngại sự hạn chế uống nước sẽ
làm cho thận mệt chăng?
Trái hẳn lại, chúng ta hãy nhớ lại những
20
kết quả tuyệt hảo trong thực chế khô của
Volhard trong việc chữa trị chứng sưng thận
cấp tính khuyếch tán. (Người Đức đã dùng
từ 7 đến 10 ngày để áp dụng thực chế khô
này).
Ngoài ra, thận tạng có khả năng bài tiết
chất muối (NaCl) trội hơn khả năng người
thường tưởng tới. Thận tạng của người có
thể thải ra cứ mỗi lít nước tiểu là 30gram
muối (NaCl) và còn hơn thế nữa. Cho dù ăn
4,5 muỗng canh muối mè mỗi ngày cũng
không dung chứa tới trên 10 gram muối
(NaCl) mỗi ngày, đó là điều rất bình thường.
KẾT LUẬN:
Cơ bản của thực chế này là đúng theo cơ
21
bản các phép dinh dưỡng cổ truyền của phần
đông dân chúng nông thôn vạm vỡ ở Châu
Âu, ở các xứ Đông phương, nhất là ở miền
cực Đông. Sự quân bình dinh dưỡng ấy đã
bị đảo lộn ở Tây phương. Ở đây chỉ có thể
sửa đổi gia giảm một cách rất khôn ngoan.
Các yếu tố có thể điều chỉnh được trong
phép ăn này tùy theo tạng thể hoặc căn
bệnh, là số lượng nước và muối, rồi đến tỉ
độ tương quan về số lượng đồ ăn ngũ cốc và
rau quả là sự chọn lựa một số ngũ cốc hoặc
rau quả và dĩ nhiên thời kỳ cần phải thay đổi
các tỉ lượng giữa những yếu tố này cho thích
hợp với người bệnh và cơ địa của mỗi người.
22
PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG MÓN ĂN
VÀ THỨC UỐNG
Chú ý :
Âm có ký hiệu ()
Âm hơn hết
Âm nhiều
Âm
Dương có ký hiệu ()
Dương hơn hết
Dương nhiều
Dương
23
Ký hiệu
Âm
Các loại cà, khoai tây, măng, giá,
nấm.
Dưa leo, bắp chuối, khoai mì, môn
tím.
Mồng tơi, su xanh, khoai mỡ tím,
khoai lang, mứt biển.
Bầu, đậu ve, đậu đũa, rau dền,
khoai mỡ trắng.
Gừng, ớt, tiêu, chanh, nước me,
cà-ri, chao, giấm gạo.
Mẻ (cơm chua), tương cải, va-ni,
rau răm.
Bơ mè, tỏi, rau cần, rau húng quế.
Kem lạnh, nước đá, thức uống có
đường, rượu, cà phê.
Nước trái cây, bia.
Trà đọt, nước khoáng, nước lã.
Đường cát
Đường thốt nốt, đường thô (vàng,
đen, nâu), đường trái cây.
24
Ký hiệu
Dương
Gạo lức, gạo tẻ.
Kê, gạo mì đen, nếp, các loại gạo
mạch, bo bo (ý dĩ), bắp (ngô).
Đậu ván
Đậu đỏ lớn hạt, xích tiểu đậu
Củ sắn dây, khoai mài.
Diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau
đắng, xà lách son, rau má, củ sam, cà
rốt, bí rợ.
Bắp cải, bông cải, củ cải trắng, cải
cay (cải bẹ xanh), cải ngọt, cải tần ô,
rau câu chỉ, phổ tai, khổ qua, su hào
Muối tự nhiên.
Quế, hồi, hoắc hương, rau mùi, hành,
kiệu, poa rô, rau dấp cá, ngò, nghệ,
tương đậu nành.
Trà rễ đinh lăng, nhân sâm.
Cà phê thực dưỡng, trà củ sen, trà
sắn dây.
Trà ba năm, sữa thảo mộc.
Mạch nha, chất ngọt hạt ngũ cốc.
25
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT
VÀ RANG MÈ
* Ghi chú: Tất cả gạo trước khi nấu cơm
đều phải ngâm trong nước ấm 400C đúng 22
tiếng và dùng nước đó để nấu thì cơm sẽ
mềm, ngon và bổ hơn là không ngâm gạo.
PHÂN LƯỢNG GẠO LỨT, NƯỚC, VÀ MUỐI:
Một lon gạo (lon sữa bò tương đương
250gr gạo) + 1,5 lon nước + một phần tư
muỗng cà phê muối hầm (Chú ý: 1 muỗng
cà phê muối hầm cho 1 kg gạo, cho muối
vào trước khi nấu cơm. Không được dùng
muối i-ốt và muối bọt, muối đã chế biến).
Nếu khô thì thêm nước. Lượng nước có thể
thêm bớt tùy loại gạo.
CÁCH NẤU GẠO LỨT BẰNG NỒI THƯỜNG:
Không được nấu bằng nồi cơm điện:
26
Nấu nước sôi, đổ nước, gạo đã ngâm và
muối vào nồi với tỷ lệ như trên, khuấy đều,
đậy nắp, nấu cho sôi bùng lên rồi tắt lửa,
Nhắc nồi xuống vẫn đậy nắp để 15 phút. Sau
đó, nhắc nồi lên bếp, nấu tiếp 20 phút nữa
lửa nhỏ cho đến khi chín.
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG NỒI ÁP SUẤT:
Một gạo + một rưỡi nước (đong bằng lon
sữa bò) + một phần tư muỗng cà phê muối
hầm. Cho gạo, nước đã ngâm và muối vô
nồi một lượt. Nấu sôi xì hơi, tắt lửa. Để yên
15 phút. Sau đó, nấu tiếp khoảng 15 phút lửa
nhỏ cho đến khi chín.
27
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT TỐT NHẤT:
* CHƯNG CÁCH THỦY BẰNG NỒI ÁP SUẤT:
Một chén gạo lứt ngâm với hơn một chén
nước. Nếu cơm khô, thêm nước; nếu cơm
nhão, bớt nước (1kg gạo lứt + 1 muỗng cà
phê muối hầm). Gạo lứt (đã ngâm) + nước
đã ngâm (không thay nước mới) + muối để
vô tô và đặt tô này vào nồi áp suất có nước,
Nước trong nồi áp suất cho vừa đủ để khi
nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô gạo.
Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã có
nước, đến khi nghe sôi kêu nồi đợt đầu 10
phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 20 phút, bật lửa
lên nấu tiếp, nghe sôi kêu nồi đợt hai 10
phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
*
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG CÁCH
CHƯNG CÁCH THỦY TRONG NỒI THƯỜNG:
28
Một chén gạo lứt nấu với hơn một chén
nước (1 kg gạo lứt + 1 muỗng cà phê muối
hầm). Gạo lứt + nước đã ngâm không thay
nước mới + muối để vô tô và đặt tô này vào
nồi có nước, Nước trong nồi cho vừa đủ để
khi nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô
gạo. Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã
có nước, đến khi nghe sôi xì hơi đợt đầu 20
phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 15 phút, bật lửa
lên nấu tiếp, nghe sôi xì hơi đợt hai 10 phút
thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
* Ghi chú: Khi nấu cơm thì tự mình điều
chỉnh: cơm khô thì lần sau thêm nước, nhão
thì lần sau bớt nước để ngon hơn.
CÁCH GIỮ CƠM GẠO LỨT KHÔNG THIU:
Không đậy nắp kín mà dùng rá để đậy nồi cơm.
Không được để cơm trong tủ lạnh.
29
CÁCH HÂM CƠM GẠO LỨT: Khoét
một lỗ tròn giữa nồi cơm cho đến đụng đáy
nồi, đổ nước vô (lượng nước đủ tráng đáy
nồi để cơm không bị khét khi hâm). Đậy nắp
nồi cơm, nấu cho nước bốc hơi lên, mở nắp
nồi khuấy đều. Dùng muỗng ép cơm cho
bằng mặt và cứng. Đậy nắp nồi, để lửa liu
riu khoảng 5 phút, tắt lửa.
CÁCH RANG MÈ:
Mè vàng còn vỏ. Đổ mè vô thau nước
đầy, đãi vớt lấy mè nổi trên mặt nước và bỏ
sạn cát chìm xuống dưới thau. Phơi khô mè
sạch đã vớt, đựng trong hộp đậy nắp. Nếu
mua mè sạch, không cần phải đãi nữa.
Khi rang mè, nhúng tay cho ướt để bóp
sơ mè cho thấm nước mới rang thì mè thơm
hơn là rang khô.
Rang lửa đều và nhỏ, khuấy đều mè, đến
khi nghe nổ lách tách, rang thêm một chút
nữa là mè chín.
30
Đổ mè chín ra thau, phải đậy kín liền.
Mười phút sau mè nguội, bỏ vô cối nghiền
chung với muối hầm. (Nghiền, không phải
giã). Một muỗng cà phê muối hầm nghiền
chung với 20 muỗng mè. Phân lượng này
thay đổi tùy theo tuổi tác và loại bệnh. Mè
trộn muối rồi chỉ được sử dụng 4 ngày. Ăn
tiếp phải rang mè mới.
RANG MÈ CÁCH 2:
Lấy 1 muỗng muối cho vào chảo, đổ 2
muỗng nước vào, cho muối tan ra. Xong cho
mè vào rang tùy theo tỉ lệ đã định trước (1020-30 mè) rồi hạ lửa thật nhỏ rang đều tay
cho đến khi chín. Mè càng lâu chín càng tốt.
Xong để nguyên như vậy ăn nếu răng còn
tốt, răng không còn nhai nghiền được thì xay
nhuyễn ăn. dọdsjsdóidiọđịídvsdjsdsdjvksdlv.
31
CÁCH ĂN CƠM GẠO LỨT VỚI MUỐI MÈ:
Khi múc cơm ra chén, không được xới
cơm đều, chỉ xắn cơm trong nồi từ trên
xuống dưới để lấy đủ âm dương. Ăn bao
nhiêu thì xắn đủ bấy nhiêu ra chén. Để
nguyên phần cơm dư ngày mai, không được
xới lên. Một chén cơm trộn đều với 4 muỗng
cà phê muối mè đã nghiền.
Ăn bằng muỗng cà phê, một lần ăn một
muỗng cà phê cơm trộn mè, không được
nhiều hơn để nhai nát cơm cho dễ. Phải nhai
cho đến khi cơm thành nước và cảm thấy
nước ngọt mới được nuốt và chỉ nuốt một
lần, không được nuốt nhiều lần; vì nuốt
nhiều lần sẽ bị khát nước. Khi ăn không
được hở môi, không được nói chuyện. Ăn
bất cứ giờ nào, không cần đúng bữa. Trước
khi ngủ hai tiếng không được ăn. Dùng số
lượng chén cơm nhiều ít tùy ý, nhưng không
nên ăn no một lần. Một chén cơm có thể ăn
nhiều lần.
32
CÁCH RANG GẠO LỨT DÙNG ĐỂ ĂN:
Nấu cơm gạo lứt chín bình thường. Xới
cơm ra mâm, phơi khô. Khi phơi cơm, phải
trở cơm thường xuyên mới khô đều và cơm
rang được dòn. Mỗi ngày phơi cơm, chiều
mang vô, mai phơi tiếp, không nên phơi ban
đêm ngoài sương. Nhớ đậy cơm bằng vải
mỏng để tránh bụi và các con vật nhỏ không
bám vào cơm. Khi cơm khô, nên cà ra để
cơm rời ra từng hạt rồi chia làm 2 loại để
rang: Hạt nguyên rang riêng, hạt bể rang
riêng. Dùng chảo cho 1 kg muối hầm vào
rang muối cho thật nóng cho đến khi muối
bốc hết hơi rồi mới cho 1 vá cơm tương
đương với nửa chén cơm. Rang cơm đến khi
hạt cơm phồng lên và vàng thơm thì tắt lửa,
đổ ra rây sắt, rây muối xong mới cho vào
chảo để tiếp tục rang lần sau, còn cơm thì
cho vào thố đậy lại để đến khi nguội, số
muối đã rang sẽ để dùng cho 50 lần nữa đến
khi muối giảm mặn thì bỏ, lấy muối mới để
rang cơm tiếp.
33
Chú ý:
+ Không nên mở nắp ra để cơm rang mau
nguội ăn sẽ không tốt cho sức khỏe.
+ Ở những vùng không có nắng, dùng
thiết bị sấy từ 40o – 42 oC.
Nếu răng yếu, có thể xay gạo rang thành
bột rồi cho nước nóng vào ăn; hoặc không
xay thành bột thì có thể ăn bằng cách ngậm
gạo lứt rang trong miệng cho mềm rồi nhai
cho đến khi thành nước, mới được nuốt và
chỉ nuốt một lần khi nước ngọt.
34
CÁCH RANG GẠO LỨT LÀM NƯỚC UỐNG:
Rửa gạo sơ, xong rồi đổ vào chảo rang
đều đến khi thấy hạt gạo nâu sẫm và có mùi
thơm là đổ ra đậy lại để cho tới khi nguội,
rồi để vào lọ thủy tinh, ngày nào uống lấy ra.
CÁCH RANG ĐẬU ĐỎ ĐỂ UỐNG:
Đậu đỏ trước khi rang phải ngâm trong
nước sôi 5 phút rồi vớt đậu ra rang, đến khi
hạt đậu nâu teo lại mới chín (đậu không chín
uống bị tanh và sình bụng), xong rồi đổ ra
đậy hầm để nguội.
Trường hợp TRẦM CẢM, hoặc
thường xuyên buồn vô cớ: Hai tiếng một
lần, nhai 1 muỗng cà phê muối mè rang rồi.
Và trước khi đi ngủ, nhai 4 muỗng cà phê
muối mè rang, nhai đến lúc không còn mặn
thì mới được nuốt (khoảng 5 phút cho một
lần ăn).
35
NƯỚC UỐNG TÙY THEO BỆNH: Bệnh
tim mạch, đường ruột, bao tử, vôi cột sống:
dùng lá trà ba năm hoặc trà đậu đỏ rang trộn
gạo lứt rang phân lượng bằng nhau.
CÁCH PHƠI LÁ TRÀ BA NĂM: Nấu
nước sôi, cho lá trà tươi vào rồi vớt ra liền
(đó là cách rửa trà). Sau đó ủ một đêm, phơi
chỗ mát, một ngày xốc lên ba lần (sáng, trưa,
chiều), phơi khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Lá
trà khô cho vào bao để chỗ không ẩm. Khi
dùng, mới sao khử thổ bằng cách đổ lá trà đã
rang thơm xuống nền gạch tàu rồi hốt lên
liền, không được để lâu. Có thể mua 4
miếng gạch Tàu, nếu nhà không có lót gạch
Tàu. Lá trà rang để nhanh xuống nền đất
sạch rồi hốt lên liền đến khi uống rửa sạch
nấu nước.
36
CÁCH NẤU NƯỚC TRÀ:
* Cách 1: Lấy 10 lá trà khô, rửa sạch
bằng nước lạnh, vò nát lá trà, cho vô bình
thủy và đổ 2 xị nước sôi vô (2 xị = 0,5l). Để
khoảng 15 phút, trà sẽ ra đủ chất và để
nguyên lá trà như vậy trong bình thủy, khi
uống rót nước thôi.
* Cách 2: Nấu 10 lá trà đã rửa sạch, nấu
sôi 15 phút, đổ nước trà vô bình thủy giữ
nóng, bỏ lá trà.
37
ĐÁNH RĂNG:
Không được dùng kem đánh răng vì có
chất hóa học. Đánh răng bằng bột thuốc theo
phương pháp dưỡng sinh. Một ngày chỉ
đánh một lần vào buổi tối. Các lần khác súc
miệng bằng nước muối
***
Phụ chú:
ĂN GẠO LỨT MUỐI MÈ THEO SỐ 7:
Nghĩa là 100% cốc loại, và gạo lứt muối
mè, không được ăn bất cứ thức ăn gì (kể cả
rau củ và trái cây cũng không được ăn).
38
CÁC TRỢ PHƯƠNG THEO
PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH
1.CÁCH XÔNG ĐAU NHỨC: 1kg
muối hột và 1 kg củ cải trắng cho vào 4 lít
nước nấu sôi. Đổ nước sôi này ra xô, rồi
dùng vật cản gác trên mặt nước để chân
không đụng vô nước bị phỏng và gác chân
lên xông, dùng mền quấn bít kín lại đến
ngang rốn. Nước xông nguội thì cho chân vô
ngâm 5 phút, rồi ngâm chân vô nước lạnh
trong 1 phút. Xông chân liên tục 1 tuần rồi
nghỉ, nếu nghe đau mỏi chân thì ngâm tiếp.
2.CÁCH ÁP NƯỚC GỪNG CHỖ
ĐAU VÀ KHỐI U TRONG CƠ THỂ:
Lấy 200gram Gừng tươi giã nhuyễn cho
vào bọc vải mùng.
39
Nấu 2 lít nước sôi cho bọc gừng vô rồi hạ
bớt lửa liền và để lửa liu riu, không được tắt
lửa để giữ nước còn nóng. Nắm góc khăn để
nhúng vô nồi nước gừng và vắt khăn ráo.
Gấp khăn làm 4 đắp lên chỗ đau với độ nóng
chịu được và phủ lên một khăn khô bên
ngoài để giữ nóng.
Trong lúc đắp khăn nóng thứ nhất, lo
chuẩn bị nhúng khăn thứ hai vô nước gừng
nóng và vắt ráo để vô thau. Khăn thứ nhất
đã nguội thì lấy khăn ra, rồi đắp khăn nóng
thứ hai tiếp theo.
Đắp từ 20-30 phút một lần. Một ngày đắp
3 lần, hay ít nhất cũng phải đắp hai lần mới
có kết quả.
40
Chú ý: Lúc đang cho con bú, không
được đắp nước gừng lên vú sẽ bị tắt tia sữa
(trường hợp có khối u não đắp 5 phút thôi).
3.CÁCH DÁN CAO KHOAI MÔN
(CỦ NHỎ) CHỖ ĐAU VÀO BUỔI TỐI
TRƯỚC KHI NGỦ:
Khoai sọ củ nhỏ rửa sạch và gọt vỏ.
Khoai sọ đã giã nhuyễn (hoặc xay nhuyễn,
mài nhuyễn) trộn cho đều với củ gừng đã
gọt vỏ và đã giã nhuyễn (tỉ lệ 9 khoai sọ/1
gừng). Đổ hỗn hợp này vô miếng vải mùng,
bề dày hỗn hợp độ một phân rưỡi. Đắp lên
chỗ đau, bó lại để không bị rớt khoai ra và
đắp nguyên đêm (ít nhất 6 giờ mới có hiệu
quả).
41
4.VIÊM NHIỄM ÂM HỘ - TỬ CUNG:
4 cây Cải sậy tươi độ 1 kg (cải làm dưa
muối) + 4 lít nước + 1 nắm muối. Nấu chín
cải, đổ nước ra chậu, để cho nước tự nguội
hoặc cho thêm nước lạnh cho độ nóng vừa
để không bị phỏng. Sau đó ngồi vào chậu
nước này để ngâm mông và phủ mền lên
ngang rún 30 phút. Sau đó tắm cho sạch.
Ngâm mông 1 tuần liên tục rồi nghỉ. Sau khi
dứt kinh thì ngâm lại từ 1 đến 2 lần nữa để
phòng ngừa viêm nhiễm âm hộ sau này. Đắp
nước gừng và dán cao sọ từ rún trở xuống
(Xem Phương thức số 2 và số 3). Mỗi tối lấy
bông gòn bằng ngón tay út nhúng vô dầu mè
và lăn bột Denti (bột Denti chữa bệnh) rồi
nhét vào âm đạo, sáng lấy ra. Nhét như vậy
từ 1 tuần dến 10 ngày. Trường hợp bị huyết
trắng thì nhét bông gòn tẩm Dầu mè và bột
Denti giống như vậy trong 5 ngày. Ăn cơm
gạo lứt muối mè theo số 7 đến khi hết bệnh.
42
5. BỆNH HAY ĐAU BỤNG – NHỨC
ĐẦU – TRÚNG GIÓ MÉO MIỆNG
TRONG VÒNG 5 PHÚT – PHONG
GIỰT – TĂNG HUYẾT ÁP - ỔN ĐỊNH
THẦN KINH: 1 muỗng canh Bột sắn dây
cho một chút xíu nước lạnh (nước nấu chín
để nguội), khuấy lên để bột không bị ốc trâu
rồi mới cho một bát nước sôi vào, khuấy lên
thấy bột trong là chín. Nếu bột chưa trong
thì cho vào nồi để lên bếp lửa khuấy cho
chín, rồi cho một muỗng cà phê nước tương
Tamari vào khuấy đều. Uống hỗn hợp này
lúc bụng đói, hoặc lúc trúng gió hoặc vào
buổi tối và trùm mền cho đổ mồ hôi. Sau đó,
lau khô người và thay quần áo. Không được
ra gió và mở máy lạnh trước một tiếng đồng
hồ.
43
* Ghi chú: Cấp cứu khi trúng phong
nặng méo miệng: để bệnh nhân chỗ kín gió,
chích lấy máu 10 đầu ngón tay và trái tai
(phần dưới dùng để đeo bông tai của phụ
nữ), mỗi nơi nặn lấy 3 giọt máu. Đồng thời
khuấy Bột sắn dây theo cách trên và uống
nóng, trùm mền cho ra mồ hôi khoảng 30
phút là hết bệnh, không cần chở đi cấp cứu.
6. ĂN KHÔNG TIÊU, BỊ HO, CÓ
ĐÀM, TIÊU CHẢY LÂU NĂM: Dầm một
miếng Chanh muối lâu năm (khoảng 1/4
trái) với nước nóng để uống, hoặc ngậm
một miếng nhỏ chanh muối lâu năm, ngậm
một lúc rồi nuốt (khuấy bột sắn dây để vào
¼ trái chanh muối lâu năm).
7.CẢM: 15 lá Trà Bancha (trà già trên
cây lâu năm) + nửa trái Chanh muối lâu
năm (trái nhỏ, trái lớn thì một phần ba) + 1
lóng gừng bằng ngón chân cái nướng cho
chín rồi băm nhuyễn. Ba thứ này nấu với
44
một chén rưỡi nước cho sôi, sắc lại còn một
chén, vớt bỏ lá trà, rồi chế nước này vào
chén có 1 muỗng canh bột sắn dây đã được
tán ra với 1 muỗng canh nước khuấy lên,
nếu bột trong là chín, bột chưa trong thì bắc
lên bếp khuấy sơ thêm cho bột chín. Sau đó,
cho vào một muỗng cà phê nước tương
Tamari và khuấy đều. Ăn nóng rồi trùm
mền cho ra mồ hôi, không ra gió và mở máy
lạnh trước một tiếng đồng hồ.
Ghi chú: Đây là bài thuốc dành cho
những người bị cảm thường xuyên, nên
uống vào mỗi buổi sáng khi bụng đói, phân
lượng lá trà còn lại là 5 lá, chanh muối bằng
1/8 trái, nhỏ 10 giọt nước cốt gừng còn
lượng bột sắn và tương tamari thì vẫn giữ
nguyên như ở trên.
8. ĐAU CỔ HỌNG – VIÊM HỌNG HẠT VÀ
VIÊM NHIỄM THANH QUẢN, THỰC QUẢN:
Tối trước khi đi ngủ, đánh răng bằng bột
45
Denti, sau đó ngậm ¼ muỗng cà phê bột
Denti (loại ngậm, không phải loại đánh
răng), ngửa cổ để khò khò cho nước bột này
thấm vô cổ họng rồi ngậm cho đến khi hết
mặn thì nuốt luôn, đi ngủ không được uống
nước vì sẽ làm trôi thuốc (hoặc ngậm 1/8
trái chanh muối lâu năm như trên).
9. ĐÀM TRONG CỔ: Để trị đàm, buổi
tối trước khi đi ngủ ngậm 1/8 trái Chanh
muối, nuốt từ từ đến hết trái chanh muối rồi
ngủ, không được uống nước vì sẽ làm trôi
thuốc. (Chanh này đã ngâm muối 3 năm).
Ăn gạo lứt muối mè theo số 7 trong 1 tháng.
Răng yếu, có thể xay cơm gạo lứt rồi trộn
muối mè. Xay bằng cối xay thịt của Liên Xô.
Chú ý cũng phải nhai cơm cho nát thành
nước và cảm thấy vị ngọt mới được nuốt.
46
10. BỆNH NHỨC ĐẦU NHIỀU: 1 lon
nếp nấu chín trộn với lá Hành hương sống
hoặc thêm Lá lốt đã thái nhỏ, túm vào khăn,
đắp lên đầu. Vừa cảm thấy nóng chịu không
nổi thì lấy ra, rồi lại đắp vào. Liên tục đắp
như vậy cả vùng đầu và thái dương cho đến
khi nếp nguội. Một ngày đắp 3 lần, tốt nhất
là kết hợp với bài số 5 trang 43.
11. THÚ ĐỘC CẮN: Dùng dây cột phần
trên chỗ bị cắn để nọc độc không theo máu
chảy về tim, sau đó lấy bông gòn nhúng vô
nước tương Tamari đắp lên chỗ bị cắn. Và
lấy hai lòng đỏ trứng gà có trống khuấy
đều với hai muỗng canh nước tương Tamari
và uống.
47
12. XƠ GAN – VIÊM GAN B, C:
Ăn gạo lứt muối mè theo số 7. Uống
nước thân cây và lá của cây Lá gai. Lá gai
tốt nhất là lấy lá gai từ tháng Giêng đến
tháng Hai. Lấy 100gram Lá gai và cả thân
cây + 30gram Cây chó đẻ + 50gram cây Cỏ
mần chầu + 50gram Cây ô rô, tất cả sao
vàng khử thổ. Rửa sạch nấu với 3 chén nước,
nấu sắc lại còn 8 phân.
Uống chén nước lá gai đầu tiên này trước
6 giờ sáng. Sau đó, đổ 1 lít nước vô nấu sắc
lại còn nửa lít để uống suốt ngày. Nếu bị
bệnh ung thư gan thì thêm vào 10gram Bồ
công anh và 100gram Hoàng ngọc (2 thứ
này cũng sao vàng khử thổ ), Bán chỉ liên
40gram, Bách hoa xà thiệt thảo 30gram và
xem bài lọc gan số 42.
48
13. GIỜI ĂN:
Cách 1: 20 lá Trà ba năm nấu với hai
chén nước, sắc còn lại một chén để rửa vết
thương.
Cách 2: Dùng dấm nuôi thoa hoặc nhúng
gòn đắp lên vết thương. Ăn gạo lứt muối mè
số 7. Uống nước gạo lứt rang
14. HO (Do cảm hoặc dùng bổ phổi):
Nấu 30 lát Củ sen và 4 lát Gừng với 1 lít
nước, còn 2 xị để uống suốt ngày. Hoặc để
30 lát củ sen và 4 lát gừng hãm với 2 xị
nước sôi đựng trong bình thủy cho củ sen và
gừng mềm rồi uống. Không được uống nước
gì khác, không ăn trái cây.
49
OHSAWA
TỶ LỆ QUÂN BÌNH TRONG MỘT NGÀY:
Khoảng từ 70- 90% đồ ngũ cốc nguyên
cám, từ 30-10% rau củ xào, kho và hấp
- Ngũ cốc gồm : Lúa mì, gạo lứt, kê, bắp,
bo bo, lúa mạch, đại mạch, hắc mạch, kiều
mạch, v.v…
- Các loại rau quả và gia vị nên dùng:
+ Cà rốt, củ cải, bí ngô, hành tỏi, kiệu
tây, bắp su trắng, rau dền, rau xà-lách-son,
rau má, rau bồ ngót, cải bẹ xanh v.v… (rau
củ mọc thiên nhiên và rau củ sạch không sử
dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu).
1
+ Nước uống: Nước thiên nhiên, trà
Bancha, trà gạo lứt, trà củ sen, trà bồ công
anh, đậu đỏ rang + gạo lứt rang.
+ Chất béo: Dầu mè, dầu phộng (mức
tối đa là một muỗng canh dầu một người
một ngày).
+ Trái cây: Trái gấc, dâu tây, hạt dẻ,
trái cây thiên nhiên và đúng mùa, trái táo.
+ Đường: Nếu sức khỏe ổn định thì có
thể sử dụng đôi chút đường đen, đường thốt
nốt, đường phèn, mạch nha.
2
NHỮNG THỨC UỐNG, MÓN ĂN NÊN
TRÁNH DÙNG ĐẾN LÀ:
+ Tất cả các loại cà, măng, giá, nấm,
khoai tây, đậu leo, rau bá hợp, dưa gang, bắp
su đỏ, củ cải đường.
+ Bơ, sữa, đồ ăn chế bằng phó-mát.
+ Trái cây: Các đồ ăn tươi sống và đường
(trong lúc đang trị bệnh).
+ Gia vị: Tiêu, ớt, cà-ri.
+ Nước uống: Luôn luôn uống nước ấm
(khoảng 370C) và khoảng 3 xị (0,75 lít) trở
lại mỗi ngày.
SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý:
- Về tâm trạng: Không vui, không khỏe
thì không nên ăn và cũng không được nấu ăn.
3
- Về đại tiện:
phân luôn màu vàng,
chặt, không rã nát và đúng giờ vào buổi sáng.
Nếu là phân khác thì âm hơn, hoặc dương
hơn thì cần phải điều chỉnh lại.
- Về tiểu tiện: Phụ nữ không đi tiểu quá
3 lần trong ngày. Nam không đi quá 4 lần
trong ngày.
Lưu ý: Đường ruột đang tốt là một ngày
chỉ đi đại tiện một lần vào buổi sáng và chỉ
nên súc miệng một lần vào buổi tối (bột chà
răng Dentie).
- NƯỚC UỐNG: Một người quá âm, hay
bệnh về gan thì nên sử dụng trà gạo lức rang
và trà bồ công anh.
4
- Trà củ sen tốt cho người bệnh phổi. Trà
Bancha tốt cho bệnh tim mạch, đường ruột,
bao tử (tốt nhất là được sự hướng dẫn của
người có kinh nghiệm đã sử dụng từ trước
hoặc Thầy).
- DẦU MÈ GỪNG: Giã nát, hoặc mài
gừng tươi, vắt lấy nước cốt trộn đều với một
lượng dầu mè tương đương. Dùng xoa hay
đánh gió khi cảm sốt, xoa bóp khi nhức mỏi,
tức, trặc, đau bụng, sưng u, bôi lên vết lở ở
tai, mũi, ghẻ lác, xức dầu trị gầu và rụng tóc,
chỉ nên làm vừa dùng trong 2-3 ngày, vì để
lâu gừng thối, có mùi khó chiụ, có thể dùng
xen kẽ với áp nước gừng.
- CAO HẠ NHIỆT: Ngâm đậu nành với
5
nước cho mềm, giã nát và trộn thêm ít bột
cho khỏi nhão rồi đem đắp lên trán để hạ sốt,
(xem chừng thân nhiệt hạ còn 38,50C thì lấy
ra ngay) hoặc đắp những chỗ viêm nhức
(không dùng trong trường hợp ban, sởi, tót,
rạ, đậu mùa).
- BỘT GẠO LỨT SỐNG:
Nhai nhỏ gạo lứt sống và hạt muối sống,
hoặc giã thành bột mịn trộn nước và tí muối
cho dẻo, đem đắp vào vết thương, vết lở loét,
ghẻ chốc.
NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG
DƯỠNG SINH
Trị liệu theo phương pháp Thực Dưỡng
6
thiên về giáo dục, chữa con người hơn là
chữa bệnh. Nghĩa là giúp bệnh nhân tự suy
xét lại bản thân mình về mọi mặt từ thể chất
đến tinh thần, hầu tránh đi những việc làm
có hại cho mình và cho người khác, đồng
thời tổ chức được một nếp sống lành mạnh,
vui tươi và hữu ích hơn. Bởi vậy, nếu sử
dụng phương pháp Thực Dưỡng thuần túy
để chữa bệnh có tính cách tạm thời, thường
sẽ không thành công theo ý muốn, sau đây là
một số trở ngại cho việc áp dụng phương
pháp này trong trị liệu:
1.QUÁ MUỘN: Đối với những trường
hợp quá muộn, nghĩa là cơ thể đã suy thoái
trầm trọng, ví dụ như đến mức cùng thì
7
phương pháp Thực Dưỡng, một đường lối trị
bệnh dựa vào cơ thể miễn nhiễm tự nhiên,
có thể không đủ thời gian cứu con bệnh. Tuy
nhiên, nếu áp dụng phương pháp này, những
bệnh nhân quá muộn vẫn hưởng được nhiều
lợi ích như không bị đau đớn hành hạ và ra
đi êm thắm.
2. THIẾU NIỀM TIN VÀ Ý CHÍ: Nếu
không tin tưởng tuyệt đối vào những hướng
dẫn của phương pháp này, bệnh nhân rất dễ
sai phạm hoặc bỏ dỡ nửa chừng do ý kiến
của những người không am hiểu vấn đề,
hoặc dễ bị lôi cuốn bởi những món ăn thức
uống.
8
3. THIẾU NGHIÊN CỨU: Niềm tin và
ý chí được củng cố qua sự nghiên cứu lý
thuyết sách báo Thực Dưỡng và học hỏi
những người có kinh nghiệm, nhất là những
người đồng bệnh đã và đang theo phương
pháp này. Đồng thời phải lưu tâm theo dõi
những chuyển biến của cơ thể và vận dụng
những điều đã nghiên cứu, học hỏi để lấy
kinh nghiệm cho bản thân.
4. KHÔNG
THÂN
NHÂN
ĐƯỢC
GIA
ĐÌNH,
HỖ TRỢ: Nếu những
người trong gia đình bệnh nhân, nhất là
những người có phận sự chăm sóc trực tiếp
không hiểu biết, hoặc không đồng tình ủng
hộ, thì có thể vì lòng “thương” sẽ làm “hại”
9
diễn tiến cải thiện sức khỏe theo Phương
pháp Thực Dưỡng.
5. NHỮNG SAI LẦM KHÁC: Ngoài
những sai lầm đã nói như: nhai không kỹ, ăn
nhiều, uống nước nhiều, nhịn ăn không cẩn
thận, v.v… Người mới thực hành thường
mắc một số sai lầm khác như:
- Dương quá độ: Nhiều người lầm tưởng
yêu cầu của Thực Dưỡng là “càng dương
càng tốt”, nên ra sức ăn thật mặn, cố nhịn
nước dù khát, vận động thể lực tối đa, hoặc
ăn toàn các món nướng, rang, chiên dù đang
trong mùa hè v.v… Sự việc này có thể vượt
mức chịu đựng của cơ thể, gây ra tình trạng
kiệt sức, hoặc những phản ứng mãnh liệt
10
dẫn đến sự “phá giới” vô cùng nguy hiểm.
Các bạn nhớ cho chủ trương của phương
pháp Thực Dưỡng là quân bình và điều độ.
- Không biết linh động: Thường đây là
những người không chịu đọc sách báo Thực
Dưỡng và thiếu tìm hiểu thực tế. Ví dụ trẻ
con và người già răng yếu không biết nấu
nhừ, hoặc xay, giã nhỏ vật thực trước khi ăn,
hoặc không biết chế biến thực phẩm cho dễ
ăn, hoặc có người cứ ăn mãi gạo lứt muối
mè lâu ngày sinh chán, v.v….
11
Trong vũ trụ này, mọi sự vật đều vận
động và biến hóa không ngừng, nào ngày
đêm đắp đổi, nào bốn mùa luân chuyển, khi
nắng khi mưa và cuộc sống con người cũng
đa dạng. Vì vậy để có thể tồn tại, sống vui
qua năm tháng của đời người, chúng ta
không nên đóng khung vào một khuôn mẫu
hoặc một công thức cố định, mà phải biết
thích ứng với mọi đổi thay, khác biệt của
từng cá nhân theo thời gian và không gian.
Đồng thời cũng nên biết không có hiện
tượng nào thuần Âm hoặc thuần Dương, mà
bao gồm cả Âm lẫn Dương. Trong sinh hoạt
hàng ngày cũng như trong chữa trị bệnh,
chúng ta tuân theo nguyên lý này; lẽ dĩ
nhiên có lúc Dương hơn và có lúc cần Âm
hơn.
12
Phép Dinh Dưỡng Cần Được Tuân Thủ
Triệt Để Từ Ba Tuần Đến Một Tháng
Vài phản ứng có thể xảy ra cần được biết
đến vào thời kỳ đầu sau khi áp dụng phương
pháp dinh dưỡng này:
- Cảm giác suy nhược, cảm thấy chân bị
bại liệt từng phần, do nơi nguồn gốc tâm
linh và cũng do nơi giảm thiểu số lượng
huyết dịch lưu thông trong cơ thể, sau
khoảng 15 ngày đến 1 tháng, trạng chứng
này sẽ mất đi.
- Thường tim đập chậm lại, nhất là khi ta
dùng một số lượng muối khá nhiều, vô hại.
- Đau đầu thường xảy ra vào những ngày
đầu trong thời gian ăn số 7.
13
- Trạng thái buồn nôn, cũng thường hay
mửa cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm
(nói chung các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại.
cứ ăn ít lại, vài ngày sau sẽ ăn ngon trở lại,
vẫn cứ làm việc như bình thường.
- Chảy máu cam, máu mũi, đôi khi thổ
huyết, hoặc tiện huyết (phân có vấy máu).
Cũng gặp trường hợp chảy máu tai; hầu hết
các trạng thái khủng hoảng này đều được cải
thiện sau đó.
- Nhất là ở thiếu nữ thường có sự ngưng
chỉ kinh nguyệt, thay đổi từ 1 đến 6 tháng,
sau đó kinh nguyệt sẽ trở lại.
- Về phía nam giới, đôi khi có trạng
chứng bất lực trong một thời gian ngắn, có
thể cũng cùng một trạng chứng như trên.
14
- Rất thường xảy ra trường hợp táo bón
vào lúc đầu do nơi sự thiếu nước và do sự
giảm thiểu số lượng thực phẩm, nhưng
không có gì đáng quan tâm, chớ dùng thuốc
nhuận trường, không có nguy hại vì không
có chất đạm động vật. Chịu khó chờ đợi, sự
đi tiêu sẽ được điều hòa trở lại. Trong một
thời kỳ nào đó, phân không có mùi hôi thối
gì cả.
- Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn
xuống.
- Ở những người mắc bệnh phong thấp
thường có sự gia tăng đau nhức và sưng
khớp xương tạm thời.
15
- Về phương diện tinh thần, hình như
luôn có một thời kỳ hay nổi xung (dễ phát
cáu), chán đời do một số nơi cảm giác khát
nước đến bắt khó chịu. Người ta thường hay
bỏ cuộc vào thời kỳ này, việc rất thường
thấy; cần phải tiên liệu trước để chịu đựng.
- Giấc ngủ bị rút ngắn lại, thường có
mộng mị liên miên vào lúc đầu, đôi khi rất
nhanh; nhưng trái lại, không hề có sự mất
ngủ.
- Thường thường nước tiểu có màu rất
đậm và chứa nhiều chất lạ. Cả đến khi khối
lượng nước tiểu trong trở lại, nhưng vẫn
phải giữ cho được màu vàng sẫm. Đôi khi có
trường hợp sưng bọng đái nhẹ.
16
- Đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình
lình trong vòng 24 - 48 giờ, rồi dứt đi cũng
thình lình như thế mà không thấy có dấu
hiệu chi hết.
- Mặc dù có cảm giác mệt mỏi lúc đầu,
cũng cần phải tiếp tục công việc và cố gắng
tập một vài cử động thể dục hàng ngày.
- Sự tiếp tục dùng thức ăn thuộc động
vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối
thêm sẽ rất có hại.
GIẢI ĐÁP MỘT SỐ THẮC MẮC THÔNG
THƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN TÂM TRẠNG
- Ngại thiếu chất đạm thuộc động vật ?
17
Các chất đạm thực vật đã có đủ, các
amino acid trong loại ngũ cốc và rau quả
như: biển đậu, đậu xanh chẳng hạn đủ bổ túc
cho sự thiếu thốn ấy.
Một vài loại thảo mộc có giá trị bổ túc
cho đồ ăn ngũ cốc hơn hẳn các món ăn thịt
cá, hoặc sữa như bánh dầu mè (xác mè sau
khi ép lấy dầu rồi), hay xác dầu hướng
dương (14) (công cuộc khảo cứu của bà
Randouin). Nó chỉ thua có mỗi một thứ chất
đạm ở trứng mà thôi. Các đồ ăn bổ túc cho
loại ngũ cốc là những đồ ăn mang tới cho cơ
thể những chất không có trong ngũ cốc.
- Sợ thiếu sinh tố C chăng ?
Các cuộc khảo cứu thảo mộc mới đây ở
18
Nhật và ở Anh đã chứng tỏ rằng trong các
loại ngũ cốc (provitamin C) sự chịu nóng tới
ngoài 150oC và cơ thể người ta có thể tổng
hợp và huyển hóa nó thành sinh tố C.
Ngoài ra trong các thức ăn, thực dụng
như ngò tây và bồ công anh chẳng hạn,
người ta cũng nhận thấy có nhiều sinh tố C
trong cám hay cà chua và được kèm với một
hàm lượng phong phú tương đương sinh tố
A. Các sinh tố khác thì đều có đầy đủ cả.
Đại loại như sinh tố B và PP có nhiều trong
các loại ngũ cốc và sinh tố E trong mầm ngũ
cốc. Về sinh tố D thì trong mầm các loại ngũ
cốc còn nguyên cám và trong bột kiều mạch.
19
Còn lại các sinh tố thuộc nhóm F do nơi
các acid béo không bão hòa trong các loại
dầu thảo mộc sinh ra. Các acid béo giúp đắc
lực cho sự biến hóa chất Cholesterol ở cơ
thề người. Các thức loại nên dùng: dầu mè
(vừng), dầu hướng dương (18) và cả dầu
ôliu nữa. Trong các chất béo có nguồn gốc
động vật (mỡ heo, bò,…) và chất magarine
đều có tác dụng độc hại. (Công cuộc khảo
cứu của bà Randouin đăng tải trong Kỷ Yếu
của Viện Vệ Sinh Thực Phẩm năm 1957).
- Nghi ngại sự hạn chế uống nước sẽ
làm cho thận mệt chăng?
Trái hẳn lại, chúng ta hãy nhớ lại những
20
kết quả tuyệt hảo trong thực chế khô của
Volhard trong việc chữa trị chứng sưng thận
cấp tính khuyếch tán. (Người Đức đã dùng
từ 7 đến 10 ngày để áp dụng thực chế khô
này).
Ngoài ra, thận tạng có khả năng bài tiết
chất muối (NaCl) trội hơn khả năng người
thường tưởng tới. Thận tạng của người có
thể thải ra cứ mỗi lít nước tiểu là 30gram
muối (NaCl) và còn hơn thế nữa. Cho dù ăn
4,5 muỗng canh muối mè mỗi ngày cũng
không dung chứa tới trên 10 gram muối
(NaCl) mỗi ngày, đó là điều rất bình thường.
KẾT LUẬN:
Cơ bản của thực chế này là đúng theo cơ
21
bản các phép dinh dưỡng cổ truyền của phần
đông dân chúng nông thôn vạm vỡ ở Châu
Âu, ở các xứ Đông phương, nhất là ở miền
cực Đông. Sự quân bình dinh dưỡng ấy đã
bị đảo lộn ở Tây phương. Ở đây chỉ có thể
sửa đổi gia giảm một cách rất khôn ngoan.
Các yếu tố có thể điều chỉnh được trong
phép ăn này tùy theo tạng thể hoặc căn
bệnh, là số lượng nước và muối, rồi đến tỉ
độ tương quan về số lượng đồ ăn ngũ cốc và
rau quả là sự chọn lựa một số ngũ cốc hoặc
rau quả và dĩ nhiên thời kỳ cần phải thay đổi
các tỉ lượng giữa những yếu tố này cho thích
hợp với người bệnh và cơ địa của mỗi người.
22
PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG MÓN ĂN
VÀ THỨC UỐNG
Chú ý :
Âm có ký hiệu ()
Âm hơn hết
Âm nhiều
Âm
Dương có ký hiệu ()
Dương hơn hết
Dương nhiều
Dương
23
Ký hiệu
Âm
Các loại cà, khoai tây, măng, giá,
nấm.
Dưa leo, bắp chuối, khoai mì, môn
tím.
Mồng tơi, su xanh, khoai mỡ tím,
khoai lang, mứt biển.
Bầu, đậu ve, đậu đũa, rau dền,
khoai mỡ trắng.
Gừng, ớt, tiêu, chanh, nước me,
cà-ri, chao, giấm gạo.
Mẻ (cơm chua), tương cải, va-ni,
rau răm.
Bơ mè, tỏi, rau cần, rau húng quế.
Kem lạnh, nước đá, thức uống có
đường, rượu, cà phê.
Nước trái cây, bia.
Trà đọt, nước khoáng, nước lã.
Đường cát
Đường thốt nốt, đường thô (vàng,
đen, nâu), đường trái cây.
24
Ký hiệu
Dương
Gạo lức, gạo tẻ.
Kê, gạo mì đen, nếp, các loại gạo
mạch, bo bo (ý dĩ), bắp (ngô).
Đậu ván
Đậu đỏ lớn hạt, xích tiểu đậu
Củ sắn dây, khoai mài.
Diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau
đắng, xà lách son, rau má, củ sam, cà
rốt, bí rợ.
Bắp cải, bông cải, củ cải trắng, cải
cay (cải bẹ xanh), cải ngọt, cải tần ô,
rau câu chỉ, phổ tai, khổ qua, su hào
Muối tự nhiên.
Quế, hồi, hoắc hương, rau mùi, hành,
kiệu, poa rô, rau dấp cá, ngò, nghệ,
tương đậu nành.
Trà rễ đinh lăng, nhân sâm.
Cà phê thực dưỡng, trà củ sen, trà
sắn dây.
Trà ba năm, sữa thảo mộc.
Mạch nha, chất ngọt hạt ngũ cốc.
25
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT
VÀ RANG MÈ
* Ghi chú: Tất cả gạo trước khi nấu cơm
đều phải ngâm trong nước ấm 400C đúng 22
tiếng và dùng nước đó để nấu thì cơm sẽ
mềm, ngon và bổ hơn là không ngâm gạo.
PHÂN LƯỢNG GẠO LỨT, NƯỚC, VÀ MUỐI:
Một lon gạo (lon sữa bò tương đương
250gr gạo) + 1,5 lon nước + một phần tư
muỗng cà phê muối hầm (Chú ý: 1 muỗng
cà phê muối hầm cho 1 kg gạo, cho muối
vào trước khi nấu cơm. Không được dùng
muối i-ốt và muối bọt, muối đã chế biến).
Nếu khô thì thêm nước. Lượng nước có thể
thêm bớt tùy loại gạo.
CÁCH NẤU GẠO LỨT BẰNG NỒI THƯỜNG:
Không được nấu bằng nồi cơm điện:
26
Nấu nước sôi, đổ nước, gạo đã ngâm và
muối vào nồi với tỷ lệ như trên, khuấy đều,
đậy nắp, nấu cho sôi bùng lên rồi tắt lửa,
Nhắc nồi xuống vẫn đậy nắp để 15 phút. Sau
đó, nhắc nồi lên bếp, nấu tiếp 20 phút nữa
lửa nhỏ cho đến khi chín.
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG NỒI ÁP SUẤT:
Một gạo + một rưỡi nước (đong bằng lon
sữa bò) + một phần tư muỗng cà phê muối
hầm. Cho gạo, nước đã ngâm và muối vô
nồi một lượt. Nấu sôi xì hơi, tắt lửa. Để yên
15 phút. Sau đó, nấu tiếp khoảng 15 phút lửa
nhỏ cho đến khi chín.
27
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT TỐT NHẤT:
* CHƯNG CÁCH THỦY BẰNG NỒI ÁP SUẤT:
Một chén gạo lứt ngâm với hơn một chén
nước. Nếu cơm khô, thêm nước; nếu cơm
nhão, bớt nước (1kg gạo lứt + 1 muỗng cà
phê muối hầm). Gạo lứt (đã ngâm) + nước
đã ngâm (không thay nước mới) + muối để
vô tô và đặt tô này vào nồi áp suất có nước,
Nước trong nồi áp suất cho vừa đủ để khi
nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô gạo.
Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã có
nước, đến khi nghe sôi kêu nồi đợt đầu 10
phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 20 phút, bật lửa
lên nấu tiếp, nghe sôi kêu nồi đợt hai 10
phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
*
CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG CÁCH
CHƯNG CÁCH THỦY TRONG NỒI THƯỜNG:
28
Một chén gạo lứt nấu với hơn một chén
nước (1 kg gạo lứt + 1 muỗng cà phê muối
hầm). Gạo lứt + nước đã ngâm không thay
nước mới + muối để vô tô và đặt tô này vào
nồi có nước, Nước trong nồi cho vừa đủ để
khi nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô
gạo. Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã
có nước, đến khi nghe sôi xì hơi đợt đầu 20
phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 15 phút, bật lửa
lên nấu tiếp, nghe sôi xì hơi đợt hai 10 phút
thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
* Ghi chú: Khi nấu cơm thì tự mình điều
chỉnh: cơm khô thì lần sau thêm nước, nhão
thì lần sau bớt nước để ngon hơn.
CÁCH GIỮ CƠM GẠO LỨT KHÔNG THIU:
Không đậy nắp kín mà dùng rá để đậy nồi cơm.
Không được để cơm trong tủ lạnh.
29
CÁCH HÂM CƠM GẠO LỨT: Khoét
một lỗ tròn giữa nồi cơm cho đến đụng đáy
nồi, đổ nước vô (lượng nước đủ tráng đáy
nồi để cơm không bị khét khi hâm). Đậy nắp
nồi cơm, nấu cho nước bốc hơi lên, mở nắp
nồi khuấy đều. Dùng muỗng ép cơm cho
bằng mặt và cứng. Đậy nắp nồi, để lửa liu
riu khoảng 5 phút, tắt lửa.
CÁCH RANG MÈ:
Mè vàng còn vỏ. Đổ mè vô thau nước
đầy, đãi vớt lấy mè nổi trên mặt nước và bỏ
sạn cát chìm xuống dưới thau. Phơi khô mè
sạch đã vớt, đựng trong hộp đậy nắp. Nếu
mua mè sạch, không cần phải đãi nữa.
Khi rang mè, nhúng tay cho ướt để bóp
sơ mè cho thấm nước mới rang thì mè thơm
hơn là rang khô.
Rang lửa đều và nhỏ, khuấy đều mè, đến
khi nghe nổ lách tách, rang thêm một chút
nữa là mè chín.
30
Đổ mè chín ra thau, phải đậy kín liền.
Mười phút sau mè nguội, bỏ vô cối nghiền
chung với muối hầm. (Nghiền, không phải
giã). Một muỗng cà phê muối hầm nghiền
chung với 20 muỗng mè. Phân lượng này
thay đổi tùy theo tuổi tác và loại bệnh. Mè
trộn muối rồi chỉ được sử dụng 4 ngày. Ăn
tiếp phải rang mè mới.
RANG MÈ CÁCH 2:
Lấy 1 muỗng muối cho vào chảo, đổ 2
muỗng nước vào, cho muối tan ra. Xong cho
mè vào rang tùy theo tỉ lệ đã định trước (1020-30 mè) rồi hạ lửa thật nhỏ rang đều tay
cho đến khi chín. Mè càng lâu chín càng tốt.
Xong để nguyên như vậy ăn nếu răng còn
tốt, răng không còn nhai nghiền được thì xay
nhuyễn ăn. dọdsjsdóidiọđịídvsdjsdsdjvksdlv.
31
CÁCH ĂN CƠM GẠO LỨT VỚI MUỐI MÈ:
Khi múc cơm ra chén, không được xới
cơm đều, chỉ xắn cơm trong nồi từ trên
xuống dưới để lấy đủ âm dương. Ăn bao
nhiêu thì xắn đủ bấy nhiêu ra chén. Để
nguyên phần cơm dư ngày mai, không được
xới lên. Một chén cơm trộn đều với 4 muỗng
cà phê muối mè đã nghiền.
Ăn bằng muỗng cà phê, một lần ăn một
muỗng cà phê cơm trộn mè, không được
nhiều hơn để nhai nát cơm cho dễ. Phải nhai
cho đến khi cơm thành nước và cảm thấy
nước ngọt mới được nuốt và chỉ nuốt một
lần, không được nuốt nhiều lần; vì nuốt
nhiều lần sẽ bị khát nước. Khi ăn không
được hở môi, không được nói chuyện. Ăn
bất cứ giờ nào, không cần đúng bữa. Trước
khi ngủ hai tiếng không được ăn. Dùng số
lượng chén cơm nhiều ít tùy ý, nhưng không
nên ăn no một lần. Một chén cơm có thể ăn
nhiều lần.
32
CÁCH RANG GẠO LỨT DÙNG ĐỂ ĂN:
Nấu cơm gạo lứt chín bình thường. Xới
cơm ra mâm, phơi khô. Khi phơi cơm, phải
trở cơm thường xuyên mới khô đều và cơm
rang được dòn. Mỗi ngày phơi cơm, chiều
mang vô, mai phơi tiếp, không nên phơi ban
đêm ngoài sương. Nhớ đậy cơm bằng vải
mỏng để tránh bụi và các con vật nhỏ không
bám vào cơm. Khi cơm khô, nên cà ra để
cơm rời ra từng hạt rồi chia làm 2 loại để
rang: Hạt nguyên rang riêng, hạt bể rang
riêng. Dùng chảo cho 1 kg muối hầm vào
rang muối cho thật nóng cho đến khi muối
bốc hết hơi rồi mới cho 1 vá cơm tương
đương với nửa chén cơm. Rang cơm đến khi
hạt cơm phồng lên và vàng thơm thì tắt lửa,
đổ ra rây sắt, rây muối xong mới cho vào
chảo để tiếp tục rang lần sau, còn cơm thì
cho vào thố đậy lại để đến khi nguội, số
muối đã rang sẽ để dùng cho 50 lần nữa đến
khi muối giảm mặn thì bỏ, lấy muối mới để
rang cơm tiếp.
33
Chú ý:
+ Không nên mở nắp ra để cơm rang mau
nguội ăn sẽ không tốt cho sức khỏe.
+ Ở những vùng không có nắng, dùng
thiết bị sấy từ 40o – 42 oC.
Nếu răng yếu, có thể xay gạo rang thành
bột rồi cho nước nóng vào ăn; hoặc không
xay thành bột thì có thể ăn bằng cách ngậm
gạo lứt rang trong miệng cho mềm rồi nhai
cho đến khi thành nước, mới được nuốt và
chỉ nuốt một lần khi nước ngọt.
34
CÁCH RANG GẠO LỨT LÀM NƯỚC UỐNG:
Rửa gạo sơ, xong rồi đổ vào chảo rang
đều đến khi thấy hạt gạo nâu sẫm và có mùi
thơm là đổ ra đậy lại để cho tới khi nguội,
rồi để vào lọ thủy tinh, ngày nào uống lấy ra.
CÁCH RANG ĐẬU ĐỎ ĐỂ UỐNG:
Đậu đỏ trước khi rang phải ngâm trong
nước sôi 5 phút rồi vớt đậu ra rang, đến khi
hạt đậu nâu teo lại mới chín (đậu không chín
uống bị tanh và sình bụng), xong rồi đổ ra
đậy hầm để nguội.
Trường hợp TRẦM CẢM, hoặc
thường xuyên buồn vô cớ: Hai tiếng một
lần, nhai 1 muỗng cà phê muối mè rang rồi.
Và trước khi đi ngủ, nhai 4 muỗng cà phê
muối mè rang, nhai đến lúc không còn mặn
thì mới được nuốt (khoảng 5 phút cho một
lần ăn).
35
NƯỚC UỐNG TÙY THEO BỆNH: Bệnh
tim mạch, đường ruột, bao tử, vôi cột sống:
dùng lá trà ba năm hoặc trà đậu đỏ rang trộn
gạo lứt rang phân lượng bằng nhau.
CÁCH PHƠI LÁ TRÀ BA NĂM: Nấu
nước sôi, cho lá trà tươi vào rồi vớt ra liền
(đó là cách rửa trà). Sau đó ủ một đêm, phơi
chỗ mát, một ngày xốc lên ba lần (sáng, trưa,
chiều), phơi khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Lá
trà khô cho vào bao để chỗ không ẩm. Khi
dùng, mới sao khử thổ bằng cách đổ lá trà đã
rang thơm xuống nền gạch tàu rồi hốt lên
liền, không được để lâu. Có thể mua 4
miếng gạch Tàu, nếu nhà không có lót gạch
Tàu. Lá trà rang để nhanh xuống nền đất
sạch rồi hốt lên liền đến khi uống rửa sạch
nấu nước.
36
CÁCH NẤU NƯỚC TRÀ:
* Cách 1: Lấy 10 lá trà khô, rửa sạch
bằng nước lạnh, vò nát lá trà, cho vô bình
thủy và đổ 2 xị nước sôi vô (2 xị = 0,5l). Để
khoảng 15 phút, trà sẽ ra đủ chất và để
nguyên lá trà như vậy trong bình thủy, khi
uống rót nước thôi.
* Cách 2: Nấu 10 lá trà đã rửa sạch, nấu
sôi 15 phút, đổ nước trà vô bình thủy giữ
nóng, bỏ lá trà.
37
ĐÁNH RĂNG:
Không được dùng kem đánh răng vì có
chất hóa học. Đánh răng bằng bột thuốc theo
phương pháp dưỡng sinh. Một ngày chỉ
đánh một lần vào buổi tối. Các lần khác súc
miệng bằng nước muối
***
Phụ chú:
ĂN GẠO LỨT MUỐI MÈ THEO SỐ 7:
Nghĩa là 100% cốc loại, và gạo lứt muối
mè, không được ăn bất cứ thức ăn gì (kể cả
rau củ và trái cây cũng không được ăn).
38
CÁC TRỢ PHƯƠNG THEO
PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH
1.CÁCH XÔNG ĐAU NHỨC: 1kg
muối hột và 1 kg củ cải trắng cho vào 4 lít
nước nấu sôi. Đổ nước sôi này ra xô, rồi
dùng vật cản gác trên mặt nước để chân
không đụng vô nước bị phỏng và gác chân
lên xông, dùng mền quấn bít kín lại đến
ngang rốn. Nước xông nguội thì cho chân vô
ngâm 5 phút, rồi ngâm chân vô nước lạnh
trong 1 phút. Xông chân liên tục 1 tuần rồi
nghỉ, nếu nghe đau mỏi chân thì ngâm tiếp.
2.CÁCH ÁP NƯỚC GỪNG CHỖ
ĐAU VÀ KHỐI U TRONG CƠ THỂ:
Lấy 200gram Gừng tươi giã nhuyễn cho
vào bọc vải mùng.
39
Nấu 2 lít nước sôi cho bọc gừng vô rồi hạ
bớt lửa liền và để lửa liu riu, không được tắt
lửa để giữ nước còn nóng. Nắm góc khăn để
nhúng vô nồi nước gừng và vắt khăn ráo.
Gấp khăn làm 4 đắp lên chỗ đau với độ nóng
chịu được và phủ lên một khăn khô bên
ngoài để giữ nóng.
Trong lúc đắp khăn nóng thứ nhất, lo
chuẩn bị nhúng khăn thứ hai vô nước gừng
nóng và vắt ráo để vô thau. Khăn thứ nhất
đã nguội thì lấy khăn ra, rồi đắp khăn nóng
thứ hai tiếp theo.
Đắp từ 20-30 phút một lần. Một ngày đắp
3 lần, hay ít nhất cũng phải đắp hai lần mới
có kết quả.
40
Chú ý: Lúc đang cho con bú, không
được đắp nước gừng lên vú sẽ bị tắt tia sữa
(trường hợp có khối u não đắp 5 phút thôi).
3.CÁCH DÁN CAO KHOAI MÔN
(CỦ NHỎ) CHỖ ĐAU VÀO BUỔI TỐI
TRƯỚC KHI NGỦ:
Khoai sọ củ nhỏ rửa sạch và gọt vỏ.
Khoai sọ đã giã nhuyễn (hoặc xay nhuyễn,
mài nhuyễn) trộn cho đều với củ gừng đã
gọt vỏ và đã giã nhuyễn (tỉ lệ 9 khoai sọ/1
gừng). Đổ hỗn hợp này vô miếng vải mùng,
bề dày hỗn hợp độ một phân rưỡi. Đắp lên
chỗ đau, bó lại để không bị rớt khoai ra và
đắp nguyên đêm (ít nhất 6 giờ mới có hiệu
quả).
41
4.VIÊM NHIỄM ÂM HỘ - TỬ CUNG:
4 cây Cải sậy tươi độ 1 kg (cải làm dưa
muối) + 4 lít nước + 1 nắm muối. Nấu chín
cải, đổ nước ra chậu, để cho nước tự nguội
hoặc cho thêm nước lạnh cho độ nóng vừa
để không bị phỏng. Sau đó ngồi vào chậu
nước này để ngâm mông và phủ mền lên
ngang rún 30 phút. Sau đó tắm cho sạch.
Ngâm mông 1 tuần liên tục rồi nghỉ. Sau khi
dứt kinh thì ngâm lại từ 1 đến 2 lần nữa để
phòng ngừa viêm nhiễm âm hộ sau này. Đắp
nước gừng và dán cao sọ từ rún trở xuống
(Xem Phương thức số 2 và số 3). Mỗi tối lấy
bông gòn bằng ngón tay út nhúng vô dầu mè
và lăn bột Denti (bột Denti chữa bệnh) rồi
nhét vào âm đạo, sáng lấy ra. Nhét như vậy
từ 1 tuần dến 10 ngày. Trường hợp bị huyết
trắng thì nhét bông gòn tẩm Dầu mè và bột
Denti giống như vậy trong 5 ngày. Ăn cơm
gạo lứt muối mè theo số 7 đến khi hết bệnh.
42
5. BỆNH HAY ĐAU BỤNG – NHỨC
ĐẦU – TRÚNG GIÓ MÉO MIỆNG
TRONG VÒNG 5 PHÚT – PHONG
GIỰT – TĂNG HUYẾT ÁP - ỔN ĐỊNH
THẦN KINH: 1 muỗng canh Bột sắn dây
cho một chút xíu nước lạnh (nước nấu chín
để nguội), khuấy lên để bột không bị ốc trâu
rồi mới cho một bát nước sôi vào, khuấy lên
thấy bột trong là chín. Nếu bột chưa trong
thì cho vào nồi để lên bếp lửa khuấy cho
chín, rồi cho một muỗng cà phê nước tương
Tamari vào khuấy đều. Uống hỗn hợp này
lúc bụng đói, hoặc lúc trúng gió hoặc vào
buổi tối và trùm mền cho đổ mồ hôi. Sau đó,
lau khô người và thay quần áo. Không được
ra gió và mở máy lạnh trước một tiếng đồng
hồ.
43
* Ghi chú: Cấp cứu khi trúng phong
nặng méo miệng: để bệnh nhân chỗ kín gió,
chích lấy máu 10 đầu ngón tay và trái tai
(phần dưới dùng để đeo bông tai của phụ
nữ), mỗi nơi nặn lấy 3 giọt máu. Đồng thời
khuấy Bột sắn dây theo cách trên và uống
nóng, trùm mền cho ra mồ hôi khoảng 30
phút là hết bệnh, không cần chở đi cấp cứu.
6. ĂN KHÔNG TIÊU, BỊ HO, CÓ
ĐÀM, TIÊU CHẢY LÂU NĂM: Dầm một
miếng Chanh muối lâu năm (khoảng 1/4
trái) với nước nóng để uống, hoặc ngậm
một miếng nhỏ chanh muối lâu năm, ngậm
một lúc rồi nuốt (khuấy bột sắn dây để vào
¼ trái chanh muối lâu năm).
7.CẢM: 15 lá Trà Bancha (trà già trên
cây lâu năm) + nửa trái Chanh muối lâu
năm (trái nhỏ, trái lớn thì một phần ba) + 1
lóng gừng bằng ngón chân cái nướng cho
chín rồi băm nhuyễn. Ba thứ này nấu với
44
một chén rưỡi nước cho sôi, sắc lại còn một
chén, vớt bỏ lá trà, rồi chế nước này vào
chén có 1 muỗng canh bột sắn dây đã được
tán ra với 1 muỗng canh nước khuấy lên,
nếu bột trong là chín, bột chưa trong thì bắc
lên bếp khuấy sơ thêm cho bột chín. Sau đó,
cho vào một muỗng cà phê nước tương
Tamari và khuấy đều. Ăn nóng rồi trùm
mền cho ra mồ hôi, không ra gió và mở máy
lạnh trước một tiếng đồng hồ.
Ghi chú: Đây là bài thuốc dành cho
những người bị cảm thường xuyên, nên
uống vào mỗi buổi sáng khi bụng đói, phân
lượng lá trà còn lại là 5 lá, chanh muối bằng
1/8 trái, nhỏ 10 giọt nước cốt gừng còn
lượng bột sắn và tương tamari thì vẫn giữ
nguyên như ở trên.
8. ĐAU CỔ HỌNG – VIÊM HỌNG HẠT VÀ
VIÊM NHIỄM THANH QUẢN, THỰC QUẢN:
Tối trước khi đi ngủ, đánh răng bằng bột
45
Denti, sau đó ngậm ¼ muỗng cà phê bột
Denti (loại ngậm, không phải loại đánh
răng), ngửa cổ để khò khò cho nước bột này
thấm vô cổ họng rồi ngậm cho đến khi hết
mặn thì nuốt luôn, đi ngủ không được uống
nước vì sẽ làm trôi thuốc (hoặc ngậm 1/8
trái chanh muối lâu năm như trên).
9. ĐÀM TRONG CỔ: Để trị đàm, buổi
tối trước khi đi ngủ ngậm 1/8 trái Chanh
muối, nuốt từ từ đến hết trái chanh muối rồi
ngủ, không được uống nước vì sẽ làm trôi
thuốc. (Chanh này đã ngâm muối 3 năm).
Ăn gạo lứt muối mè theo số 7 trong 1 tháng.
Răng yếu, có thể xay cơm gạo lứt rồi trộn
muối mè. Xay bằng cối xay thịt của Liên Xô.
Chú ý cũng phải nhai cơm cho nát thành
nước và cảm thấy vị ngọt mới được nuốt.
46
10. BỆNH NHỨC ĐẦU NHIỀU: 1 lon
nếp nấu chín trộn với lá Hành hương sống
hoặc thêm Lá lốt đã thái nhỏ, túm vào khăn,
đắp lên đầu. Vừa cảm thấy nóng chịu không
nổi thì lấy ra, rồi lại đắp vào. Liên tục đắp
như vậy cả vùng đầu và thái dương cho đến
khi nếp nguội. Một ngày đắp 3 lần, tốt nhất
là kết hợp với bài số 5 trang 43.
11. THÚ ĐỘC CẮN: Dùng dây cột phần
trên chỗ bị cắn để nọc độc không theo máu
chảy về tim, sau đó lấy bông gòn nhúng vô
nước tương Tamari đắp lên chỗ bị cắn. Và
lấy hai lòng đỏ trứng gà có trống khuấy
đều với hai muỗng canh nước tương Tamari
và uống.
47
12. XƠ GAN – VIÊM GAN B, C:
Ăn gạo lứt muối mè theo số 7. Uống
nước thân cây và lá của cây Lá gai. Lá gai
tốt nhất là lấy lá gai từ tháng Giêng đến
tháng Hai. Lấy 100gram Lá gai và cả thân
cây + 30gram Cây chó đẻ + 50gram cây Cỏ
mần chầu + 50gram Cây ô rô, tất cả sao
vàng khử thổ. Rửa sạch nấu với 3 chén nước,
nấu sắc lại còn 8 phân.
Uống chén nước lá gai đầu tiên này trước
6 giờ sáng. Sau đó, đổ 1 lít nước vô nấu sắc
lại còn nửa lít để uống suốt ngày. Nếu bị
bệnh ung thư gan thì thêm vào 10gram Bồ
công anh và 100gram Hoàng ngọc (2 thứ
này cũng sao vàng khử thổ ), Bán chỉ liên
40gram, Bách hoa xà thiệt thảo 30gram và
xem bài lọc gan số 42.
48
13. GIỜI ĂN:
Cách 1: 20 lá Trà ba năm nấu với hai
chén nước, sắc còn lại một chén để rửa vết
thương.
Cách 2: Dùng dấm nuôi thoa hoặc nhúng
gòn đắp lên vết thương. Ăn gạo lứt muối mè
số 7. Uống nước gạo lứt rang
14. HO (Do cảm hoặc dùng bổ phổi):
Nấu 30 lát Củ sen và 4 lát Gừng với 1 lít
nước, còn 2 xị để uống suốt ngày. Hoặc để
30 lát củ sen và 4 lát gừng hãm với 2 xị
nước sôi đựng trong bình thủy cho củ sen và
gừng mềm rồi uống. Không được uống nước
gì khác, không ăn trái cây.
49
 





