SÁCH THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    HÌNH ẢNH THƯ VIỆN

    SÁCH ĐIỆN TỬ - SÁCH GIÁO VIÊN

    💕💕Học liệu số là chìa khóa để mở cánh cửa tri thức, nhưng chỉ ai dám bước qua mới có thể làm chủ tương lai."💕💕Nếu sách là ngọn đuốc soi đường, thì học liệu số là cả mặt trời tri thức."💕💕

    Trường em tây tiến

    dss

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hà Thị Tâm
    Ngày gửi: 21h:38' 03-11-2024
    Dung lượng: 527.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    SỔ TAY DƯỠNG SINH
    OHSAWA
    

    TỶ LỆ QUÂN BÌNH TRONG MỘT NGÀY:

    Khoảng từ 70- 90% đồ ngũ cốc nguyên
    cám, từ 30-10% rau củ xào, kho và hấp

    - Ngũ cốc gồm : Lúa mì, gạo lứt, kê, bắp,
    bo bo, lúa mạch, đại mạch, hắc mạch, kiều
    mạch, v.v…
    - Các loại rau quả và gia vị nên dùng:
    + Cà rốt, củ cải, bí ngô, hành tỏi, kiệu
    tây, bắp su trắng, rau dền, rau xà-lách-son,
    rau má, rau bồ ngót, cải bẹ xanh v.v… (rau
    củ mọc thiên nhiên và rau củ sạch không sử
    dụng phân hóa học và thuốc trừ sâu).
    1

    + Nước uống: Nước thiên nhiên, trà
    Bancha, trà gạo lứt, trà củ sen, trà bồ công
    anh, đậu đỏ rang + gạo lứt rang.

    + Chất béo: Dầu mè, dầu phộng (mức
    tối đa là một muỗng canh dầu một người
    một ngày).

    + Trái cây: Trái gấc, dâu tây, hạt dẻ,
    trái cây thiên nhiên và đúng mùa, trái táo.

    + Đường: Nếu sức khỏe ổn định thì có
    thể sử dụng đôi chút đường đen, đường thốt
    nốt, đường phèn, mạch nha.

    2

    NHỮNG THỨC UỐNG, MÓN ĂN NÊN
    TRÁNH DÙNG ĐẾN LÀ:
    + Tất cả các loại cà, măng, giá, nấm,
    khoai tây, đậu leo, rau bá hợp, dưa gang, bắp
    su đỏ, củ cải đường.
    + Bơ, sữa, đồ ăn chế bằng phó-mát.
    + Trái cây: Các đồ ăn tươi sống và đường
    (trong lúc đang trị bệnh).
    + Gia vị: Tiêu, ớt, cà-ri.
    + Nước uống: Luôn luôn uống nước ấm
    (khoảng 370C) và khoảng 3 xị (0,75 lít) trở
    lại mỗi ngày.

    SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ ĐIỀU CẦN LƯU Ý:

    - Về tâm trạng: Không vui, không khỏe
    thì không nên ăn và cũng không được nấu ăn.

    3

    - Về đại tiện:

    phân luôn màu vàng,

    chặt, không rã nát và đúng giờ vào buổi sáng.
    Nếu là phân khác thì âm hơn, hoặc dương
    hơn thì cần phải điều chỉnh lại.

    - Về tiểu tiện: Phụ nữ không đi tiểu quá
    3 lần trong ngày. Nam không đi quá 4 lần
    trong ngày.
    Lưu ý: Đường ruột đang tốt là một ngày
    chỉ đi đại tiện một lần vào buổi sáng và chỉ
    nên súc miệng một lần vào buổi tối (bột chà
    răng Dentie).

    - NƯỚC UỐNG: Một người quá âm, hay
    bệnh về gan thì nên sử dụng trà gạo lức rang
    và trà bồ công anh.

    4

    - Trà củ sen tốt cho người bệnh phổi. Trà
    Bancha tốt cho bệnh tim mạch, đường ruột,
    bao tử (tốt nhất là được sự hướng dẫn của
    người có kinh nghiệm đã sử dụng từ trước
    hoặc Thầy).
    - DẦU MÈ GỪNG: Giã nát, hoặc mài
    gừng tươi, vắt lấy nước cốt trộn đều với một
    lượng dầu mè tương đương. Dùng xoa hay
    đánh gió khi cảm sốt, xoa bóp khi nhức mỏi,
    tức, trặc, đau bụng, sưng u, bôi lên vết lở ở
    tai, mũi, ghẻ lác, xức dầu trị gầu và rụng tóc,
    chỉ nên làm vừa dùng trong 2-3 ngày, vì để
    lâu gừng thối, có mùi khó chiụ, có thể dùng
    xen kẽ với áp nước gừng.

    - CAO HẠ NHIỆT: Ngâm đậu nành với

    5

    nước cho mềm, giã nát và trộn thêm ít bột
    cho khỏi nhão rồi đem đắp lên trán để hạ sốt,
    (xem chừng thân nhiệt hạ còn 38,50C thì lấy
    ra ngay) hoặc đắp những chỗ viêm nhức
    (không dùng trong trường hợp ban, sởi, tót,
    rạ, đậu mùa).

    - BỘT GẠO LỨT SỐNG:
    Nhai nhỏ gạo lứt sống và hạt muối sống,
    hoặc giã thành bột mịn trộn nước và tí muối
    cho dẻo, đem đắp vào vết thương, vết lở loét,
    ghẻ chốc.
    NHỮNG TRỞ NGẠI TRONG
    DƯỠNG SINH
    Trị liệu theo phương pháp Thực Dưỡng

    6

    thiên về giáo dục, chữa con người hơn là
    chữa bệnh. Nghĩa là giúp bệnh nhân tự suy
    xét lại bản thân mình về mọi mặt từ thể chất
    đến tinh thần, hầu tránh đi những việc làm
    có hại cho mình và cho người khác, đồng
    thời tổ chức được một nếp sống lành mạnh,
    vui tươi và hữu ích hơn. Bởi vậy, nếu sử
    dụng phương pháp Thực Dưỡng thuần túy
    để chữa bệnh có tính cách tạm thời, thường
    sẽ không thành công theo ý muốn, sau đây là
    một số trở ngại cho việc áp dụng phương
    pháp này trong trị liệu:

    1.QUÁ MUỘN: Đối với những trường
    hợp quá muộn, nghĩa là cơ thể đã suy thoái
    trầm trọng, ví dụ như đến mức cùng thì

    7

    phương pháp Thực Dưỡng, một đường lối trị
    bệnh dựa vào cơ thể miễn nhiễm tự nhiên,
    có thể không đủ thời gian cứu con bệnh. Tuy
    nhiên, nếu áp dụng phương pháp này, những
    bệnh nhân quá muộn vẫn hưởng được nhiều
    lợi ích như không bị đau đớn hành hạ và ra
    đi êm thắm.

    2. THIẾU NIỀM TIN VÀ Ý CHÍ: Nếu
    không tin tưởng tuyệt đối vào những hướng
    dẫn của phương pháp này, bệnh nhân rất dễ
    sai phạm hoặc bỏ dỡ nửa chừng do ý kiến
    của những người không am hiểu vấn đề,
    hoặc dễ bị lôi cuốn bởi những món ăn thức
    uống.

    8

    3. THIẾU NGHIÊN CỨU: Niềm tin và
    ý chí được củng cố qua sự nghiên cứu lý
    thuyết sách báo Thực Dưỡng và học hỏi
    những người có kinh nghiệm, nhất là những
    người đồng bệnh đã và đang theo phương
    pháp này. Đồng thời phải lưu tâm theo dõi
    những chuyển biến của cơ thể và vận dụng
    những điều đã nghiên cứu, học hỏi để lấy
    kinh nghiệm cho bản thân.

    4. KHÔNG
    THÂN

    NHÂN

    ĐƯỢC

    GIA

    ĐÌNH,

    HỖ TRỢ: Nếu những

    người trong gia đình bệnh nhân, nhất là
    những người có phận sự chăm sóc trực tiếp
    không hiểu biết, hoặc không đồng tình ủng
    hộ, thì có thể vì lòng “thương” sẽ làm “hại”

    9

    diễn tiến cải thiện sức khỏe theo Phương
    pháp Thực Dưỡng.
    5. NHỮNG SAI LẦM KHÁC: Ngoài
    những sai lầm đã nói như: nhai không kỹ, ăn
    nhiều, uống nước nhiều, nhịn ăn không cẩn
    thận, v.v… Người mới thực hành thường
    mắc một số sai lầm khác như:

    - Dương quá độ: Nhiều người lầm tưởng
    yêu cầu của Thực Dưỡng là “càng dương
    càng tốt”, nên ra sức ăn thật mặn, cố nhịn
    nước dù khát, vận động thể lực tối đa, hoặc
    ăn toàn các món nướng, rang, chiên dù đang
    trong mùa hè v.v… Sự việc này có thể vượt
    mức chịu đựng của cơ thể, gây ra tình trạng
    kiệt sức, hoặc những phản ứng mãnh liệt

    10

    dẫn đến sự “phá giới” vô cùng nguy hiểm.
    Các bạn nhớ cho chủ trương của phương
    pháp Thực Dưỡng là quân bình và điều độ.

    - Không biết linh động: Thường đây là
    những người không chịu đọc sách báo Thực
    Dưỡng và thiếu tìm hiểu thực tế. Ví dụ trẻ
    con và người già răng yếu không biết nấu
    nhừ, hoặc xay, giã nhỏ vật thực trước khi ăn,
    hoặc không biết chế biến thực phẩm cho dễ
    ăn, hoặc có người cứ ăn mãi gạo lứt muối
    mè lâu ngày sinh chán, v.v….

    11

    Trong vũ trụ này, mọi sự vật đều vận
    động và biến hóa không ngừng, nào ngày
    đêm đắp đổi, nào bốn mùa luân chuyển, khi
    nắng khi mưa và cuộc sống con người cũng
    đa dạng. Vì vậy để có thể tồn tại, sống vui
    qua năm tháng của đời người, chúng ta
    không nên đóng khung vào một khuôn mẫu
    hoặc một công thức cố định, mà phải biết
    thích ứng với mọi đổi thay, khác biệt của
    từng cá nhân theo thời gian và không gian.
    Đồng thời cũng nên biết không có hiện
    tượng nào thuần Âm hoặc thuần Dương, mà
    bao gồm cả Âm lẫn Dương. Trong sinh hoạt
    hàng ngày cũng như trong chữa trị bệnh,
    chúng ta tuân theo nguyên lý này; lẽ dĩ
    nhiên có lúc Dương hơn và có lúc cần Âm
    hơn.
    12

    Phép Dinh Dưỡng Cần Được Tuân Thủ
    Triệt Để Từ Ba Tuần Đến Một Tháng

    Vài phản ứng có thể xảy ra cần được biết
    đến vào thời kỳ đầu sau khi áp dụng phương
    pháp dinh dưỡng này:
    - Cảm giác suy nhược, cảm thấy chân bị
    bại liệt từng phần, do nơi nguồn gốc tâm
    linh và cũng do nơi giảm thiểu số lượng
    huyết dịch lưu thông trong cơ thể, sau
    khoảng 15 ngày đến 1 tháng, trạng chứng
    này sẽ mất đi.
    - Thường tim đập chậm lại, nhất là khi ta
    dùng một số lượng muối khá nhiều, vô hại.
    - Đau đầu thường xảy ra vào những ngày
    đầu trong thời gian ăn số 7.

    13

    - Trạng thái buồn nôn, cũng thường hay
    mửa cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm
    (nói chung các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại.
    cứ ăn ít lại, vài ngày sau sẽ ăn ngon trở lại,
    vẫn cứ làm việc như bình thường.
    - Chảy máu cam, máu mũi, đôi khi thổ
    huyết, hoặc tiện huyết (phân có vấy máu).
    Cũng gặp trường hợp chảy máu tai; hầu hết
    các trạng thái khủng hoảng này đều được cải
    thiện sau đó.
    - Nhất là ở thiếu nữ thường có sự ngưng
    chỉ kinh nguyệt, thay đổi từ 1 đến 6 tháng,
    sau đó kinh nguyệt sẽ trở lại.
    - Về phía nam giới, đôi khi có trạng
    chứng bất lực trong một thời gian ngắn, có
    thể cũng cùng một trạng chứng như trên.

    14

    - Rất thường xảy ra trường hợp táo bón
    vào lúc đầu do nơi sự thiếu nước và do sự
    giảm thiểu số lượng thực phẩm, nhưng
    không có gì đáng quan tâm, chớ dùng thuốc
    nhuận trường, không có nguy hại vì không
    có chất đạm động vật. Chịu khó chờ đợi, sự
    đi tiêu sẽ được điều hòa trở lại. Trong một
    thời kỳ nào đó, phân không có mùi hôi thối
    gì cả.
    - Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn
    xuống.
    - Ở những người mắc bệnh phong thấp
    thường có sự gia tăng đau nhức và sưng
    khớp xương tạm thời.

    15

    - Về phương diện tinh thần, hình như
    luôn có một thời kỳ hay nổi xung (dễ phát
    cáu), chán đời do một số nơi cảm giác khát
    nước đến bắt khó chịu. Người ta thường hay
    bỏ cuộc vào thời kỳ này, việc rất thường
    thấy; cần phải tiên liệu trước để chịu đựng.

    - Giấc ngủ bị rút ngắn lại, thường có
    mộng mị liên miên vào lúc đầu, đôi khi rất
    nhanh; nhưng trái lại, không hề có sự mất
    ngủ.

    - Thường thường nước tiểu có màu rất
    đậm và chứa nhiều chất lạ. Cả đến khi khối
    lượng nước tiểu trong trở lại, nhưng vẫn
    phải giữ cho được màu vàng sẫm. Đôi khi có
    trường hợp sưng bọng đái nhẹ.
    16

    - Đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình
    lình trong vòng 24 - 48 giờ, rồi dứt đi cũng
    thình lình như thế mà không thấy có dấu
    hiệu chi hết.

    - Mặc dù có cảm giác mệt mỏi lúc đầu,
    cũng cần phải tiếp tục công việc và cố gắng
    tập một vài cử động thể dục hàng ngày.

    - Sự tiếp tục dùng thức ăn thuộc động
    vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối
    thêm sẽ rất có hại.
    GIẢI ĐÁP MỘT SỐ THẮC MẮC THÔNG
    THƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN TÂM TRẠNG

    - Ngại thiếu chất đạm thuộc động vật ?

    17

    Các chất đạm thực vật đã có đủ, các
    amino acid trong loại ngũ cốc và rau quả
    như: biển đậu, đậu xanh chẳng hạn đủ bổ túc
    cho sự thiếu thốn ấy.
    Một vài loại thảo mộc có giá trị bổ túc
    cho đồ ăn ngũ cốc hơn hẳn các món ăn thịt
    cá, hoặc sữa như bánh dầu mè (xác mè sau
    khi ép lấy dầu rồi), hay xác dầu hướng
    dương (14) (công cuộc khảo cứu của bà
    Randouin). Nó chỉ thua có mỗi một thứ chất
    đạm ở trứng mà thôi. Các đồ ăn bổ túc cho
    loại ngũ cốc là những đồ ăn mang tới cho cơ
    thể những chất không có trong ngũ cốc.

    - Sợ thiếu sinh tố C chăng ?
    Các cuộc khảo cứu thảo mộc mới đây ở

    18

    Nhật và ở Anh đã chứng tỏ rằng trong các
    loại ngũ cốc (provitamin C) sự chịu nóng tới
    ngoài 150oC và cơ thể người ta có thể tổng
    hợp và huyển hóa nó thành sinh tố C.

    Ngoài ra trong các thức ăn, thực dụng
    như ngò tây và bồ công anh chẳng hạn,
    người ta cũng nhận thấy có nhiều sinh tố C
    trong cám hay cà chua và được kèm với một
    hàm lượng phong phú tương đương sinh tố
    A. Các sinh tố khác thì đều có đầy đủ cả.
    Đại loại như sinh tố B và PP có nhiều trong
    các loại ngũ cốc và sinh tố E trong mầm ngũ
    cốc. Về sinh tố D thì trong mầm các loại ngũ
    cốc còn nguyên cám và trong bột kiều mạch.

    19

    Còn lại các sinh tố thuộc nhóm F do nơi
    các acid béo không bão hòa trong các loại
    dầu thảo mộc sinh ra. Các acid béo giúp đắc
    lực cho sự biến hóa chất Cholesterol ở cơ
    thề người. Các thức loại nên dùng: dầu mè
    (vừng), dầu hướng dương (18) và cả dầu
    ôliu nữa. Trong các chất béo có nguồn gốc
    động vật (mỡ heo, bò,…) và chất magarine
    đều có tác dụng độc hại. (Công cuộc khảo
    cứu của bà Randouin đăng tải trong Kỷ Yếu
    của Viện Vệ Sinh Thực Phẩm năm 1957).

    - Nghi ngại sự hạn chế uống nước sẽ
    làm cho thận mệt chăng?
    Trái hẳn lại, chúng ta hãy nhớ lại những

    20

    kết quả tuyệt hảo trong thực chế khô của
    Volhard trong việc chữa trị chứng sưng thận
    cấp tính khuyếch tán. (Người Đức đã dùng
    từ 7 đến 10 ngày để áp dụng thực chế khô
    này).
    Ngoài ra, thận tạng có khả năng bài tiết
    chất muối (NaCl) trội hơn khả năng người
    thường tưởng tới. Thận tạng của người có
    thể thải ra cứ mỗi lít nước tiểu là 30gram
    muối (NaCl) và còn hơn thế nữa. Cho dù ăn
    4,5 muỗng canh muối mè mỗi ngày cũng
    không dung chứa tới trên 10 gram muối
    (NaCl) mỗi ngày, đó là điều rất bình thường.

    KẾT LUẬN:
    Cơ bản của thực chế này là đúng theo cơ

    21

    bản các phép dinh dưỡng cổ truyền của phần
    đông dân chúng nông thôn vạm vỡ ở Châu
    Âu, ở các xứ Đông phương, nhất là ở miền
    cực Đông. Sự quân bình dinh dưỡng ấy đã
    bị đảo lộn ở Tây phương. Ở đây chỉ có thể
    sửa đổi gia giảm một cách rất khôn ngoan.
    Các yếu tố có thể điều chỉnh được trong
    phép ăn này tùy theo tạng thể hoặc căn
    bệnh, là số lượng nước và muối, rồi đến tỉ
    độ tương quan về số lượng đồ ăn ngũ cốc và
    rau quả là sự chọn lựa một số ngũ cốc hoặc
    rau quả và dĩ nhiên thời kỳ cần phải thay đổi
    các tỉ lượng giữa những yếu tố này cho thích
    hợp với người bệnh và cơ địa của mỗi người.

    22

    PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG MÓN ĂN

    VÀ THỨC UỐNG

    Chú ý :

    Âm có ký hiệu ()

    
    


    Âm hơn hết
    Âm nhiều
    Âm

    Dương có ký hiệu ()
    
    


    Dương hơn hết
    Dương nhiều
    Dương

    23

    Ký hiệu
    
    


    

    Âm
    Các loại cà, khoai tây, măng, giá,
    nấm.
    Dưa leo, bắp chuối, khoai mì, môn
    tím.
    Mồng tơi, su xanh, khoai mỡ tím,
    khoai lang, mứt biển.
    Bầu, đậu ve, đậu đũa, rau dền,
    khoai mỡ trắng.
    Gừng, ớt, tiêu, chanh, nước me,
    cà-ri, chao, giấm gạo.

    

    Mẻ (cơm chua), tương cải, va-ni,
    rau răm.


    

    Bơ mè, tỏi, rau cần, rau húng quế.
    Kem lạnh, nước đá, thức uống có
    đường, rượu, cà phê.

    

    
    

    Nước trái cây, bia.
    Trà đọt, nước khoáng, nước lã.
    Đường cát
    Đường thốt nốt, đường thô (vàng,
    đen, nâu), đường trái cây.

    24

    Ký hiệu
    


    
    


    


    
    



    Dương
    Gạo lức, gạo tẻ.
    Kê, gạo mì đen, nếp, các loại gạo
    mạch, bo bo (ý dĩ), bắp (ngô).
    Đậu ván
    Đậu đỏ lớn hạt, xích tiểu đậu
    Củ sắn dây, khoai mài.
    Diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau
    đắng, xà lách son, rau má, củ sam, cà
    rốt, bí rợ.
    Bắp cải, bông cải, củ cải trắng, cải
    cay (cải bẹ xanh), cải ngọt, cải tần ô,
    rau câu chỉ, phổ tai, khổ qua, su hào
    Muối tự nhiên.
    Quế, hồi, hoắc hương, rau mùi, hành,
    kiệu, poa rô, rau dấp cá, ngò, nghệ,
    tương đậu nành.
    Trà rễ đinh lăng, nhân sâm.
    Cà phê thực dưỡng, trà củ sen, trà
    sắn dây.
    Trà ba năm, sữa thảo mộc.
    Mạch nha, chất ngọt hạt ngũ cốc.

    25

    CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT
    VÀ RANG MÈ
    * Ghi chú: Tất cả gạo trước khi nấu cơm
    đều phải ngâm trong nước ấm 400C đúng 22
    tiếng và dùng nước đó để nấu thì cơm sẽ
    mềm, ngon và bổ hơn là không ngâm gạo.
    PHÂN LƯỢNG GẠO LỨT, NƯỚC, VÀ MUỐI:

    Một lon gạo (lon sữa bò tương đương
    250gr gạo) + 1,5 lon nước + một phần tư
    muỗng cà phê muối hầm (Chú ý: 1 muỗng
    cà phê muối hầm cho 1 kg gạo, cho muối
    vào trước khi nấu cơm. Không được dùng
    muối i-ốt và muối bọt, muối đã chế biến).
    Nếu khô thì thêm nước. Lượng nước có thể
    thêm bớt tùy loại gạo.
    CÁCH NẤU GẠO LỨT BẰNG NỒI THƯỜNG:

    Không được nấu bằng nồi cơm điện:
    26

    Nấu nước sôi, đổ nước, gạo đã ngâm và
    muối vào nồi với tỷ lệ như trên, khuấy đều,
    đậy nắp, nấu cho sôi bùng lên rồi tắt lửa,
    Nhắc nồi xuống vẫn đậy nắp để 15 phút. Sau
    đó, nhắc nồi lên bếp, nấu tiếp 20 phút nữa
    lửa nhỏ cho đến khi chín.
    CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG NỒI ÁP SUẤT:

    Một gạo + một rưỡi nước (đong bằng lon
    sữa bò) + một phần tư muỗng cà phê muối
    hầm. Cho gạo, nước đã ngâm và muối vô
    nồi một lượt. Nấu sôi xì hơi, tắt lửa. Để yên
    15 phút. Sau đó, nấu tiếp khoảng 15 phút lửa
    nhỏ cho đến khi chín.

    27

    CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT TỐT NHẤT:

    * CHƯNG CÁCH THỦY BẰNG NỒI ÁP SUẤT:
    Một chén gạo lứt ngâm với hơn một chén
    nước. Nếu cơm khô, thêm nước; nếu cơm
    nhão, bớt nước (1kg gạo lứt + 1 muỗng cà
    phê muối hầm). Gạo lứt (đã ngâm) + nước
    đã ngâm (không thay nước mới) + muối để
    vô tô và đặt tô này vào nồi áp suất có nước,
    Nước trong nồi áp suất cho vừa đủ để khi
    nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô gạo.
    Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã có
    nước, đến khi nghe sôi kêu nồi đợt đầu 10
    phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 20 phút, bật lửa
    lên nấu tiếp, nghe sôi kêu nồi đợt hai 10
    phút thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
    *

    CÁCH NẤU CƠM GẠO LỨT BẰNG CÁCH

    CHƯNG CÁCH THỦY TRONG NỒI THƯỜNG:

    28

    Một chén gạo lứt nấu với hơn một chén
    nước (1 kg gạo lứt + 1 muỗng cà phê muối
    hầm). Gạo lứt + nước đã ngâm không thay
    nước mới + muối để vô tô và đặt tô này vào
    nồi có nước, Nước trong nồi cho vừa đủ để
    khi nấu sôi lên không bị tràn nước vào tô
    gạo. Bật lửa, chưng cách thủy tô gạo lứt đã
    có nước, đến khi nghe sôi xì hơi đợt đầu 20
    phút, tắt lửa, để yên đó. Sau 15 phút, bật lửa
    lên nấu tiếp, nghe sôi xì hơi đợt hai 10 phút
    thì tắt lửa. Để 30 phút sau là cơm chín.
    * Ghi chú: Khi nấu cơm thì tự mình điều
    chỉnh: cơm khô thì lần sau thêm nước, nhão
    thì lần sau bớt nước để ngon hơn.
    CÁCH GIỮ CƠM GẠO LỨT KHÔNG THIU:

    Không đậy nắp kín mà dùng rá để đậy nồi cơm.

    Không được để cơm trong tủ lạnh.
    29

    CÁCH HÂM CƠM GẠO LỨT: Khoét
    một lỗ tròn giữa nồi cơm cho đến đụng đáy
    nồi, đổ nước vô (lượng nước đủ tráng đáy
    nồi để cơm không bị khét khi hâm). Đậy nắp
    nồi cơm, nấu cho nước bốc hơi lên, mở nắp
    nồi khuấy đều. Dùng muỗng ép cơm cho
    bằng mặt và cứng. Đậy nắp nồi, để lửa liu
    riu khoảng 5 phút, tắt lửa.
    CÁCH RANG MÈ:
    Mè vàng còn vỏ. Đổ mè vô thau nước
    đầy, đãi vớt lấy mè nổi trên mặt nước và bỏ
    sạn cát chìm xuống dưới thau. Phơi khô mè
    sạch đã vớt, đựng trong hộp đậy nắp. Nếu
    mua mè sạch, không cần phải đãi nữa.
    Khi rang mè, nhúng tay cho ướt để bóp
    sơ mè cho thấm nước mới rang thì mè thơm
    hơn là rang khô.
    Rang lửa đều và nhỏ, khuấy đều mè, đến
    khi nghe nổ lách tách, rang thêm một chút
    nữa là mè chín.
    30

    Đổ mè chín ra thau, phải đậy kín liền.
    Mười phút sau mè nguội, bỏ vô cối nghiền
    chung với muối hầm. (Nghiền, không phải
    giã). Một muỗng cà phê muối hầm nghiền
    chung với 20 muỗng mè. Phân lượng này
    thay đổi tùy theo tuổi tác và loại bệnh. Mè
    trộn muối rồi chỉ được sử dụng 4 ngày. Ăn
    tiếp phải rang mè mới.
    RANG MÈ CÁCH 2:
    Lấy 1 muỗng muối cho vào chảo, đổ 2
    muỗng nước vào, cho muối tan ra. Xong cho
    mè vào rang tùy theo tỉ lệ đã định trước (1020-30 mè) rồi hạ lửa thật nhỏ rang đều tay
    cho đến khi chín. Mè càng lâu chín càng tốt.
    Xong để nguyên như vậy ăn nếu răng còn
    tốt, răng không còn nhai nghiền được thì xay
    nhuyễn ăn. dọdsjsdóidiọđịídvsdjsdsdjvksdlv.

    31

    CÁCH ĂN CƠM GẠO LỨT VỚI MUỐI MÈ:

    Khi múc cơm ra chén, không được xới
    cơm đều, chỉ xắn cơm trong nồi từ trên
    xuống dưới để lấy đủ âm dương. Ăn bao
    nhiêu thì xắn đủ bấy nhiêu ra chén. Để
    nguyên phần cơm dư ngày mai, không được
    xới lên. Một chén cơm trộn đều với 4 muỗng
    cà phê muối mè đã nghiền.
    Ăn bằng muỗng cà phê, một lần ăn một
    muỗng cà phê cơm trộn mè, không được
    nhiều hơn để nhai nát cơm cho dễ. Phải nhai
    cho đến khi cơm thành nước và cảm thấy
    nước ngọt mới được nuốt và chỉ nuốt một
    lần, không được nuốt nhiều lần; vì nuốt
    nhiều lần sẽ bị khát nước. Khi ăn không
    được hở môi, không được nói chuyện. Ăn
    bất cứ giờ nào, không cần đúng bữa. Trước
    khi ngủ hai tiếng không được ăn. Dùng số
    lượng chén cơm nhiều ít tùy ý, nhưng không
    nên ăn no một lần. Một chén cơm có thể ăn
    nhiều lần.
    32

    CÁCH RANG GẠO LỨT DÙNG ĐỂ ĂN:
    Nấu cơm gạo lứt chín bình thường. Xới
    cơm ra mâm, phơi khô. Khi phơi cơm, phải
    trở cơm thường xuyên mới khô đều và cơm
    rang được dòn. Mỗi ngày phơi cơm, chiều
    mang vô, mai phơi tiếp, không nên phơi ban
    đêm ngoài sương. Nhớ đậy cơm bằng vải
    mỏng để tránh bụi và các con vật nhỏ không
    bám vào cơm. Khi cơm khô, nên cà ra để
    cơm rời ra từng hạt rồi chia làm 2 loại để
    rang: Hạt nguyên rang riêng, hạt bể rang
    riêng. Dùng chảo cho 1 kg muối hầm vào
    rang muối cho thật nóng cho đến khi muối
    bốc hết hơi rồi mới cho 1 vá cơm tương
    đương với nửa chén cơm. Rang cơm đến khi
    hạt cơm phồng lên và vàng thơm thì tắt lửa,
    đổ ra rây sắt, rây muối xong mới cho vào
    chảo để tiếp tục rang lần sau, còn cơm thì
    cho vào thố đậy lại để đến khi nguội, số
    muối đã rang sẽ để dùng cho 50 lần nữa đến
    khi muối giảm mặn thì bỏ, lấy muối mới để
    rang cơm tiếp.
    33

    Chú ý:
    + Không nên mở nắp ra để cơm rang mau
    nguội ăn sẽ không tốt cho sức khỏe.
    + Ở những vùng không có nắng, dùng
    thiết bị sấy từ 40o – 42 oC.
    Nếu răng yếu, có thể xay gạo rang thành
    bột rồi cho nước nóng vào ăn; hoặc không
    xay thành bột thì có thể ăn bằng cách ngậm
    gạo lứt rang trong miệng cho mềm rồi nhai
    cho đến khi thành nước, mới được nuốt và
    chỉ nuốt một lần khi nước ngọt.

    34

    CÁCH RANG GẠO LỨT LÀM NƯỚC UỐNG:

    Rửa gạo sơ, xong rồi đổ vào chảo rang
    đều đến khi thấy hạt gạo nâu sẫm và có mùi
    thơm là đổ ra đậy lại để cho tới khi nguội,
    rồi để vào lọ thủy tinh, ngày nào uống lấy ra.
    CÁCH RANG ĐẬU ĐỎ ĐỂ UỐNG:
    Đậu đỏ trước khi rang phải ngâm trong
    nước sôi 5 phút rồi vớt đậu ra rang, đến khi
    hạt đậu nâu teo lại mới chín (đậu không chín
    uống bị tanh và sình bụng), xong rồi đổ ra
    đậy hầm để nguội.
    Trường hợp TRẦM CẢM, hoặc
    thường xuyên buồn vô cớ: Hai tiếng một
    lần, nhai 1 muỗng cà phê muối mè rang rồi.
    Và trước khi đi ngủ, nhai 4 muỗng cà phê
    muối mè rang, nhai đến lúc không còn mặn
    thì mới được nuốt (khoảng 5 phút cho một
    lần ăn).

    35

    NƯỚC UỐNG TÙY THEO BỆNH: Bệnh

    tim mạch, đường ruột, bao tử, vôi cột sống:
    dùng lá trà ba năm hoặc trà đậu đỏ rang trộn
    gạo lứt rang phân lượng bằng nhau.
    CÁCH PHƠI LÁ TRÀ BA NĂM: Nấu

    nước sôi, cho lá trà tươi vào rồi vớt ra liền
    (đó là cách rửa trà). Sau đó ủ một đêm, phơi
    chỗ mát, một ngày xốc lên ba lần (sáng, trưa,
    chiều), phơi khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Lá
    trà khô cho vào bao để chỗ không ẩm. Khi
    dùng, mới sao khử thổ bằng cách đổ lá trà đã
    rang thơm xuống nền gạch tàu rồi hốt lên
    liền, không được để lâu. Có thể mua 4
    miếng gạch Tàu, nếu nhà không có lót gạch
    Tàu. Lá trà rang để nhanh xuống nền đất
    sạch rồi hốt lên liền đến khi uống rửa sạch
    nấu nước.
    36

    CÁCH NẤU NƯỚC TRÀ:
    * Cách 1: Lấy 10 lá trà khô, rửa sạch
    bằng nước lạnh, vò nát lá trà, cho vô bình
    thủy và đổ 2 xị nước sôi vô (2 xị = 0,5l). Để
    khoảng 15 phút, trà sẽ ra đủ chất và để
    nguyên lá trà như vậy trong bình thủy, khi
    uống rót nước thôi.
    * Cách 2: Nấu 10 lá trà đã rửa sạch, nấu
    sôi 15 phút, đổ nước trà vô bình thủy giữ
    nóng, bỏ lá trà.

    37

    ĐÁNH RĂNG:
    Không được dùng kem đánh răng vì có
    chất hóa học. Đánh răng bằng bột thuốc theo
    phương pháp dưỡng sinh. Một ngày chỉ
    đánh một lần vào buổi tối. Các lần khác súc
    miệng bằng nước muối

    ***
    Phụ chú:
    ĂN GẠO LỨT MUỐI MÈ THEO SỐ 7:
    Nghĩa là 100% cốc loại, và gạo lứt muối
    mè, không được ăn bất cứ thức ăn gì (kể cả
    rau củ và trái cây cũng không được ăn).

    38

    CÁC TRỢ PHƯƠNG THEO
    PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH
    1.CÁCH XÔNG ĐAU NHỨC: 1kg
    muối hột và 1 kg củ cải trắng cho vào 4 lít
    nước nấu sôi. Đổ nước sôi này ra xô, rồi
    dùng vật cản gác trên mặt nước để chân
    không đụng vô nước bị phỏng và gác chân
    lên xông, dùng mền quấn bít kín lại đến
    ngang rốn. Nước xông nguội thì cho chân vô
    ngâm 5 phút, rồi ngâm chân vô nước lạnh
    trong 1 phút. Xông chân liên tục 1 tuần rồi
    nghỉ, nếu nghe đau mỏi chân thì ngâm tiếp.
    2.CÁCH ÁP NƯỚC GỪNG CHỖ
    ĐAU VÀ KHỐI U TRONG CƠ THỂ:
    Lấy 200gram Gừng tươi giã nhuyễn cho
    vào bọc vải mùng.
    39

    Nấu 2 lít nước sôi cho bọc gừng vô rồi hạ
    bớt lửa liền và để lửa liu riu, không được tắt
    lửa để giữ nước còn nóng. Nắm góc khăn để
    nhúng vô nồi nước gừng và vắt khăn ráo.
    Gấp khăn làm 4 đắp lên chỗ đau với độ nóng
    chịu được và phủ lên một khăn khô bên
    ngoài để giữ nóng.
    Trong lúc đắp khăn nóng thứ nhất, lo
    chuẩn bị nhúng khăn thứ hai vô nước gừng
    nóng và vắt ráo để vô thau. Khăn thứ nhất
    đã nguội thì lấy khăn ra, rồi đắp khăn nóng
    thứ hai tiếp theo.
    Đắp từ 20-30 phút một lần. Một ngày đắp
    3 lần, hay ít nhất cũng phải đắp hai lần mới
    có kết quả.

    40

    Chú ý: Lúc đang cho con bú, không
    được đắp nước gừng lên vú sẽ bị tắt tia sữa
    (trường hợp có khối u não đắp 5 phút thôi).
    3.CÁCH DÁN CAO KHOAI MÔN
    (CỦ NHỎ) CHỖ ĐAU VÀO BUỔI TỐI
    TRƯỚC KHI NGỦ:
    Khoai sọ củ nhỏ rửa sạch và gọt vỏ.
    Khoai sọ đã giã nhuyễn (hoặc xay nhuyễn,
    mài nhuyễn) trộn cho đều với củ gừng đã
    gọt vỏ và đã giã nhuyễn (tỉ lệ 9 khoai sọ/1
    gừng). Đổ hỗn hợp này vô miếng vải mùng,
    bề dày hỗn hợp độ một phân rưỡi. Đắp lên
    chỗ đau, bó lại để không bị rớt khoai ra và
    đắp nguyên đêm (ít nhất 6 giờ mới có hiệu
    quả).

    41

    4.VIÊM NHIỄM ÂM HỘ - TỬ CUNG:
    4 cây Cải sậy tươi độ 1 kg (cải làm dưa
    muối) + 4 lít nước + 1 nắm muối. Nấu chín
    cải, đổ nước ra chậu, để cho nước tự nguội
    hoặc cho thêm nước lạnh cho độ nóng vừa
    để không bị phỏng. Sau đó ngồi vào chậu
    nước này để ngâm mông và phủ mền lên
    ngang rún 30 phút. Sau đó tắm cho sạch.
    Ngâm mông 1 tuần liên tục rồi nghỉ. Sau khi
    dứt kinh thì ngâm lại từ 1 đến 2 lần nữa để
    phòng ngừa viêm nhiễm âm hộ sau này. Đắp
    nước gừng và dán cao sọ từ rún trở xuống
    (Xem Phương thức số 2 và số 3). Mỗi tối lấy
    bông gòn bằng ngón tay út nhúng vô dầu mè
    và lăn bột Denti (bột Denti chữa bệnh) rồi
    nhét vào âm đạo, sáng lấy ra. Nhét như vậy
    từ 1 tuần dến 10 ngày. Trường hợp bị huyết
    trắng thì nhét bông gòn tẩm Dầu mè và bột
    Denti giống như vậy trong 5 ngày. Ăn cơm
    gạo lứt muối mè theo số 7 đến khi hết bệnh.
    42

    5. BỆNH HAY ĐAU BỤNG – NHỨC
    ĐẦU – TRÚNG GIÓ MÉO MIỆNG
    TRONG VÒNG 5 PHÚT – PHONG
    GIỰT – TĂNG HUYẾT ÁP - ỔN ĐỊNH
    THẦN KINH: 1 muỗng canh Bột sắn dây
    cho một chút xíu nước lạnh (nước nấu chín
    để nguội), khuấy lên để bột không bị ốc trâu
    rồi mới cho một bát nước sôi vào, khuấy lên
    thấy bột trong là chín. Nếu bột chưa trong
    thì cho vào nồi để lên bếp lửa khuấy cho
    chín, rồi cho một muỗng cà phê nước tương
    Tamari vào khuấy đều. Uống hỗn hợp này
    lúc bụng đói, hoặc lúc trúng gió hoặc vào
    buổi tối và trùm mền cho đổ mồ hôi. Sau đó,
    lau khô người và thay quần áo. Không được
    ra gió và mở máy lạnh trước một tiếng đồng
    hồ.

    43

    * Ghi chú: Cấp cứu khi trúng phong
    nặng méo miệng: để bệnh nhân chỗ kín gió,
    chích lấy máu 10 đầu ngón tay và trái tai
    (phần dưới dùng để đeo bông tai của phụ
    nữ), mỗi nơi nặn lấy 3 giọt máu. Đồng thời
    khuấy Bột sắn dây theo cách trên và uống
    nóng, trùm mền cho ra mồ hôi khoảng 30
    phút là hết bệnh, không cần chở đi cấp cứu.
    6. ĂN KHÔNG TIÊU, BỊ HO, CÓ
    ĐÀM, TIÊU CHẢY LÂU NĂM: Dầm một
    miếng Chanh muối lâu năm (khoảng 1/4
    trái) với nước nóng để uống, hoặc ngậm
    một miếng nhỏ chanh muối lâu năm, ngậm
    một lúc rồi nuốt (khuấy bột sắn dây để vào
    ¼ trái chanh muối lâu năm).
    7.CẢM: 15 lá Trà Bancha (trà già trên
    cây lâu năm) + nửa trái Chanh muối lâu
    năm (trái nhỏ, trái lớn thì một phần ba) + 1
    lóng gừng bằng ngón chân cái nướng cho
    chín rồi băm nhuyễn. Ba thứ này nấu với
    44

    một chén rưỡi nước cho sôi, sắc lại còn một
    chén, vớt bỏ lá trà, rồi chế nước này vào
    chén có 1 muỗng canh bột sắn dây đã được
    tán ra với 1 muỗng canh nước khuấy lên,
    nếu bột trong là chín, bột chưa trong thì bắc
    lên bếp khuấy sơ thêm cho bột chín. Sau đó,
    cho vào một muỗng cà phê nước tương
    Tamari và khuấy đều. Ăn nóng rồi trùm
    mền cho ra mồ hôi, không ra gió và mở máy
    lạnh trước một tiếng đồng hồ.
    Ghi chú: Đây là bài thuốc dành cho
    những người bị cảm thường xuyên, nên
    uống vào mỗi buổi sáng khi bụng đói, phân
    lượng lá trà còn lại là 5 lá, chanh muối bằng
    1/8 trái, nhỏ 10 giọt nước cốt gừng còn
    lượng bột sắn và tương tamari thì vẫn giữ
    nguyên như ở trên.
    8. ĐAU CỔ HỌNG – VIÊM HỌNG HẠT VÀ
    VIÊM NHIỄM THANH QUẢN, THỰC QUẢN:

    Tối trước khi đi ngủ, đánh răng bằng bột
    45

    Denti, sau đó ngậm ¼ muỗng cà phê bột
    Denti (loại ngậm, không phải loại đánh
    răng), ngửa cổ để khò khò cho nước bột này
    thấm vô cổ họng rồi ngậm cho đến khi hết
    mặn thì nuốt luôn, đi ngủ không được uống
    nước vì sẽ làm trôi thuốc (hoặc ngậm 1/8
    trái chanh muối lâu năm như trên).
    9. ĐÀM TRONG CỔ: Để trị đàm, buổi
    tối trước khi đi ngủ ngậm 1/8 trái Chanh
    muối, nuốt từ từ đến hết trái chanh muối rồi
    ngủ, không được uống nước vì sẽ làm trôi
    thuốc. (Chanh này đã ngâm muối 3 năm).
    Ăn gạo lứt muối mè theo số 7 trong 1 tháng.
    Răng yếu, có thể xay cơm gạo lứt rồi trộn
    muối mè. Xay bằng cối xay thịt của Liên Xô.
    Chú ý cũng phải nhai cơm cho nát thành
    nước và cảm thấy vị ngọt mới được nuốt.

    46

    10. BỆNH NHỨC ĐẦU NHIỀU: 1 lon
    nếp nấu chín trộn với lá Hành hương sống
    hoặc thêm Lá lốt đã thái nhỏ, túm vào khăn,
    đắp lên đầu. Vừa cảm thấy nóng chịu không
    nổi thì lấy ra, rồi lại đắp vào. Liên tục đắp
    như vậy cả vùng đầu và thái dương cho đến
    khi nếp nguội. Một ngày đắp 3 lần, tốt nhất
    là kết hợp với bài số 5 trang 43.

    11. THÚ ĐỘC CẮN: Dùng dây cột phần
    trên chỗ bị cắn để nọc độc không theo máu
    chảy về tim, sau đó lấy bông gòn nhúng vô
    nước tương Tamari đắp lên chỗ bị cắn. Và
    lấy hai lòng đỏ trứng gà có trống khuấy
    đều với hai muỗng canh nước tương Tamari
    và uống.

    47

    12. XƠ GAN – VIÊM GAN B, C:
    Ăn gạo lứt muối mè theo số 7. Uống
    nước thân cây và lá của cây Lá gai. Lá gai
    tốt nhất là lấy lá gai từ tháng Giêng đến
    tháng Hai. Lấy 100gram Lá gai và cả thân
    cây + 30gram Cây chó đẻ + 50gram cây Cỏ
    mần chầu + 50gram Cây ô rô, tất cả sao
    vàng khử thổ. Rửa sạch nấu với 3 chén nước,
    nấu sắc lại còn 8 phân.
    Uống chén nước lá gai đầu tiên này trước
    6 giờ sáng. Sau đó, đổ 1 lít nước vô nấu sắc
    lại còn nửa lít để uống suốt ngày. Nếu bị
    bệnh ung thư gan thì thêm vào 10gram Bồ
    công anh và 100gram Hoàng ngọc (2 thứ
    này cũng sao vàng khử thổ ), Bán chỉ liên
    40gram, Bách hoa xà thiệt thảo 30gram và
    xem bài lọc gan số 42.
    48

    13. GIỜI ĂN:
    Cách 1: 20 lá Trà ba năm nấu với hai
    chén nước, sắc còn lại một chén để rửa vết
    thương.
    Cách 2: Dùng dấm nuôi thoa hoặc nhúng
    gòn đắp lên vết thương. Ăn gạo lứt muối mè
    số 7. Uống nước gạo lứt rang
    14. HO (Do cảm hoặc dùng bổ phổi):
    Nấu 30 lát Củ sen và 4 lát Gừng với 1 lít
    nước, còn 2 xị để uống suốt ngày. Hoặc để
    30 lát củ sen và 4 lát gừng hãm với 2 xị
    nước sôi đựng trong bình thủy cho củ sen và
    gừng mềm rồi uống. Không được uống nước
    gì khác, không ăn trái cây.

    49
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TH & THCS TÂY TIẾN!