Trường em tây tiến
Hạnh Phúc Lối Nào - Hồ Biểu Chánh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:29' 25-03-2024
Dung lượng: 753.8 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:29' 25-03-2024
Dung lượng: 753.8 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Hồ Biểu Chánh
Hạnh Phúc Lối Nào
vietmessenger.com
I. LẦN THEO LỐI CŨ
Ở thành thị hay ở thôn quê mỗi chỗ có một thứ vui riêng. Trong chốn
thôn quê, hễ mùa mưa vừa dứt, mùa nắng tới rồi, thì cảnh vật trông
ra vui vẻ lạ lùng, vui mà khỏi lo xẹp túi hao tiền, vui mà khỏi sợ xa
hoa trụy lạc.
Thú vui là thú vui được tiếp xúc với cảnh đời thiệt thà, thơ thới, giản
dị, ôn hòa của đám nông phu, vui được cảm thấy cách buồn lo, cách
bực tức, cách hối hận, cách thẹn thùa, cách yêu gia đình, cách quí
danh dự của hạng bình dân gái trai già trẻ. Phải gần gũi đặng thấy
rõ bề cư xử của người sống giữa đồng bái, mới thấu hiểu cá tánh và
tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Vậy ai muốn tìm hiểu thế thái nhân
tình thì nên nới ra khỏi chốn thị thành, mới biết thú vui đáng mến,
mới thấy sự thật đáng hiểu.
Nếu các bạn không tin lời của chúng tôi, thì chúng tôi mời các bạn đi
chơi với chúng tôi vài bữa. Chẳng cần phải lội lặn đi đâu cho xa.
Chúng ta đi xuống vùng Cần Giuộc cách Saigon vài chục cây số
ngàn mà thôi. Chúng ta chung sống với nông gia một thời gian, thì
cũng đủ cho chúng ta hài lòng và sáng trí.
Đây chúng tôi dỡ hé thử một góc bức màn đen tối che đậy cuộc
sanh sống thôn quê, dỡ hé cho các bạn liếc mắt sơ qua mà nhìn
xem ít gia đình nông dân, xem vài nhà có cơm tiền với vài nhà
thường thiếu hụt, xem người thiệt thà chơn chất chớ không phải dại
khờ, còn tham lam thiệt cũng dám hung hăng ngang ngược vậy.
Năm nầy cũng như các năm khác. Bước qua đầu tháng 11 thì buổi
chiều gió chướng thổi lai rai, còn đêm khuya gió bấc phất man mác.
Trong vườn quýt, cam đều đơm trái, bầu, mướp đua trổ bông, dưới
bầu trời xanh xanh với vài cụm mây trong trắng trắng.
Còn ngoài đồng thì rải rác có người đứng theo mấy bờ ruộng mà
câu cá, đầu đội nón lá, mình mặc quần áo sơ sài, đứng châm bẩm,
dầu rê cá lóc hay là nhử cá rô, cũng bền chí đứng cả buổi, không sợ
nắng, không biết mỏi.
Giữa cánh đồng minh mông, gần hay xa đâu đâu cũng là lúa, mấy
chú câu nầy giúp tạo ra một bức tranh đẹp đẽ, hữu cảnh, hữu nhơn,
lại có mấy xóm dạng dạng 1 phía trong xa, với rặng cây trâm bầu
áng trước mấy cái nhà sùm sụp.
Đồng im lìm, bằng phẳng, mấy đám lúa sớm đã chín rồi nên phơi
màu vàng, hứa hẹn áo quần Tết cho con, vợ. Mấy đám lúa lỡ, bông
trổ đã gần đều nên khoe màu xám xám, sắp giúp tiền để sắm lễ vật
mà cúng quải trong ba ngày xuân. Còn những đám lúa xanh dờn,
chỗ thì bụi đương nở, chỗ thì đã ngậm đòng đòng, cả thảy đều
chung giúp cho nông gia thanh toán chi phí hoặc nợ nần nuôi sống
gia đình quanh năm, mà còn dư để giúp cho tô điểm cửa nhà, hoặc
để dự phòng tốn hao bất trắc.
Trong vùng Cần Giuộc cũng như các vùng xa xôi khác, đến lúc nầy
nhơn dân giàu hay nghèo, thảy đều hân hoan thơ thới, quên hết các
cực nhọc đã qua để vui rước sung sướng sắp tới, bởi vậy già trẻ
đều lăng xăng rộn rực, người đi thăm lúa, kẻ lo trồng rau, mong ước
lúa bán được giá cao, hàng mua được giá thấp, đặng ngày Tết vui
say chơi ít bữa mà chào năm mới bình an mạnh giỏi.
Từ trong vườn trong rẫy ra ngoài ruộng ngoài sông, chỗ nào cũng
thấy cuộc sanh hoạt mạnh mẽ của con nhà nông. Ấy là triệu chứng
tâm hồn vững vàng cứng cõi của dân tộc Việt Nam cương quyết
sanh tồn, không kể cuộc đời đổi xây không sợ tai họa hăm dọa.
Ở trên Chợ Lớn đi xuống Cần Giuộc, khi gần tới dốc cầu đúc bắt để
qua chợ, nếu các bạn lưu ý thì tự nhiên các bạn sẽ thấy bên phía
tay mặt có một thớt vườn xum xê, nằm cách công lộ chừng một trăm
thước. Từ mé lộ vô tới vườn có một bờ đắp rộng lớn cao ráo, xe
ngựa xe hơi vô ra dễ dàng. Bờ phóng ngang qua đám ruộng, hai
bên không có trồng cây cối chi hết, đầu trong đi ngay vô giữa vườn,
không có cửa ngõ, nhưng phía nầy mỗi bên có trồng một hàng cây
bông bụp để làm hàng rào. Dài theo rào đó thì trồng cây sua đũa,
đến mùa nầy nó trổ bông trắng nõn xem cũng vui vui.
Qua khỏi rào rồi thì tới một cái sân rộng lớn, bỏ trống để mùa gặt
chất lúa bó mà đập, còn một bên thì có một cái chuồng lợp lá dừa
để nhốt trâu.
Sau cái sân nầy thì có một tòa nhà nhỏ, ngói ba căn hai chái, nền
đúc, cửa cuốn, cất theo kiểu xưa. Phía sau nữa mới có nhà bếp,
vựa lúa, chuồng heo, chuồng gà, chuồng vịt, rồi thì tới vườn có cau,
trầu, dừa, chuối trồng chen nhau lộn xộn.
Hỏi ra mới biết cuộc nhà nầy là cuộc của bà Xã Cầm ở. Xóm nầy
gồm hơn một chục nóc gia, chớ không phải bà Xã Cầm ở riêng một
mình. Vì bà ở đầu ngoài, lại có vườn áng khuất, các nhà khác ở dọc
theo mé rạch Cần Giuộc, nhằm phía sau vườn của bà, bởi vậy đi
ngoài công lộ ngó vô không thấy được. Cả xóm ai cũng là tá điền và
bà con xa xa với chồng bà hết.
Tưởng nên nói phứt cho các bạn hiểu bà Xã Cầm nầy là ai.
Bà Xã Cầm là một bà sương phụ năm nay đã 60 tuổi, đầu tóc bạc
hoa râm, răng rụng hết vài cái, nhưng sức khỏe bà vẫn còn đầy đủ.
Thuở nay bà ở với tá điền, tá thổ có, nhơn ở với bà con bên chồng
có nghĩa, bởi vậy trong làng trong xóm, từ già chí trẻ, ai cũng kính
mến bà. Mà cả vùng nầy từ cầu Ông Thình xuống Cần Giuộc, Mồng
Gà, Chợ Trạm, Cần Đước, qua tới Rạch Đào, Rạch Kiến, ai nghe
tên bà cũng đều kính nể.
Người ta nói quả quyết rằng không phải tại bà giàu có, nên bà được
thiên hạ kính nể - - Bà là một sương phụ, chồng bà hồi sanh tiền chỉ
mới làm chức Xã trưởng mà thôi, chớ không có oai quyền gì. Hiện
thời bà có nhà cửa ruộng đất, nhưng bình thường mỗi năm bà thâu
góp huê lợi lối hai ngàn rưỡi thùng lúa; bà phải mua trâu mướn bạn
làm dây ruộng trước nhà nên số lúa của bà mới lên được ba ngàn
thùng. Ấy vậy bà là người có cơm tiền, chớ không phải là người giàu
lớn, nên thiên hạ kiêng sợ. Sở dĩ người ta kính nể, ngợi khen bà chỉ
vì bà là người ham nhơn nghĩa, biết lễ giáo, bà biết thương nhà
nghèo, bà ở phải với bà con làng xóm, bà sẵn lòng cứu giúp những
người bị tai nạn, nhứt là bà biết thủ tiết với chồng, chồng chết hồi bà
26 tuổi mà bà ở góa nuôi con, ở góa trót 40 năm trường, không có
tiếng tăm chi hết, cái hạnh đó mới thiệt là quý.
Tại như vậy nên ở vùng Cần Giuộc, ai nghe nói đến tên bà Xã Cầm
thì cũng cho là bà là "người hiền đức". Bà được thiên hạ tặng cho
cái danh tốt như vậy thiệt là quý. Có nhiều bà, chồng làm đến chức
Hương Cả, có huê lợi hàng năm bằng mười số lúa của bà, mà nào
có được ai khen ngợi quý trọng như bà vậy đâu.
Bà Xã Cầm được như vậy là vì bà sanh trưởng trong nhà nho học ở
bên Rạch Đào. Ông thân sanh của bà hồi trước học thức rộng, làm
thuốc hay, ông dạy dỗ bà trong khuôn khổ nho giáo.
Nhũ danh của bà Lê Thị Nữ. Khi bà được 20 tuổi, cha mẹ gả bà cho
Nguyễn Văn Cầm, con trai của một ông Hương sư có cơm tiền ở
bên Cần Giuộc.
Về nhà chồng, nhờ có nho phong của cha ung đúc, nên bà giữ trọn
phận làm dâu thảo làm vợ hiền. Chẳng may làm dâu mới được một
năm thì cha mẹ chồng lần lượt chết hết. Vì chồng bà là con một
trong gia đình, bởi vậy bà tận tâm giúp chồng cư tang trúng đạo,
cúng tế đủ lễ.
Đến năm bà 23 tuổi, bà mới sanh được đứa con trai. Vợ chồng vui
mừng lựa tên Nguyễn Văn Đường mà đặt cho con.
Cha mẹ để lại một cuộc nhà với vài chục mẫu ruộng. Cầm tính lo
làm ruộng đặng nối nghiệp của mẹ cha.
Cầm cày cấy 4 mẫu đất chung quanh nhà, còn 16 mẫu xa thì chia
cho tá điền mướn. Trong nhà nhờ có vợ lo bề nội trợ, Cầm làm trong
ít năm thì số lúa đã được thêm nhiều.
Làng thấy Cầm có cơm tiền, lại tánh tình thuần hậu, mới ép cử làm
Xã trưởng. Không thể từ chối được. Cầm phải ép lòng lãnh chức mà
giúp việc làng. Nào dè làm xã trưởng chưa được một năm, Cầm
nhuốm bịnh rồi chết, bỏ lại người vợ góa 26 tuổi với đứa con côi cút
mới 3 tuổi.
Thím Xã Cầm chồng chết mà thím còn trẻ quá, sắc đẹp mới nở nên
hình dáng yêu kiều, nho phong dồi mài nên tánh tình thuần hậu; đã
vậy mà thím còn làm chủ một sự nghiệp khả ái, một năm có sẵn lúa
ngàn. Ấy là một miếng mồi ngon, mà treo nhem nhẻm cho bợm
tham tài với khách háo sắc gần xa, bởi vậy thiếu chi kẻ lân la hoặc
dòm ngó.
Thím xã ta lại không quan niệm cảnh đời sống tương lai của thím
như ý thiên hạ tưởng tượng. Thím nhận thấy trời đất từ đây phú cho
thím ba nhiệm vụ, ấy đều cao thượng cả ba.
Thứ nhứt: thủ tiết với chồng mà thờ chồng và thay thế cho chồng
mà phụng sự mẹ cha ông bà bên chồng
Thứ nhì: nuôi dạy đứa con thơ ngây đặng chừng khôn lớn nó đủ trí
mà nối nghiệp cho tông môn
Thứ ba: giữ gìn tài sản của ông cha lưu hạ, đặng ngày sau giao lại
cho con, nếu bành trướng thêm được thì càng tốt; còn như không
được thì cũng phải giữ cho y nguyên, không phép làm hao mòn mẻ
sứt.
Đã biết gánh thì nặng, đường thì xa, nhưng thím xã ta cương quyết
vừa xách, vừa bưng, thím để cả ba gánh lên vai rồi mạnh mẽ bước
vào đường đời, ngó ngay trước mặt mà đi tới, không kể yến anh
nhảy nhót trên rào hoặc hát ca ngoài ngõ.
Hễ nói sao thì làm vậy, dầu mệt cũng không thối chí, dầu buồn cũng
không thở than. Trót mấy năm thím Xã tiếp tục cày cấy ruộng gần và
cho mướn ruộng xa, cũng như hồi chồng còn sống. Thím chăm nom
thờ phụng cúng quẩy chồng và ông bà cha mẹ bên chồng hẳn hoi.
Thím cậy người trong xóm dạy con tập đọc tập viết, hễ rãnh thì thím
dạy con điều nên lẽ hư cho con nghe, chỉ tánh tốt tật xấu cho con
thấy, cố tâm ung đúc cho con trở nên người đứng đắn, mà cũng
mong gây đời hạnh phúc sẵn cho con an hưởng.
Khi bé Đường được 8 tuổi, thím cho qua trường Cần Giuộc học.
Thím kiểm điểm công lao của thím lại, thì thím nhận thấy cả ba
nhiệm vụ thím đều làm được vuông tròn. Số huê lợi cho mướn
ruộng với số lúa làm ra thím dành dụm được một số tiền khá lớn.
Thím tu bổ nhà cửa cho chắc chắn, dọn dẹp vườn sân cho sạch sẽ,
mà thím còn mua thêm được một sở ruộng 10 mẫu trong mé Rạch
Mồng Gà. Công phu được kết quả tốt đẹp như vậy càng nung chí
cho thím đi tới hoài. Bành trướng thêm sự nghiệp cho con và xây
dựng nền hạnh phúc để con hưởng, đó là hai mục tiêu của thím,
không bao giờ thím quên cho được.
Vốn con nhà có giáo dục, bé Đường biết kính mến cha mẹ, biết quý
trọng tông môn. Lớn lên chàng thấy trong gia đình có một mình bà
mẹ còn mà săn sóc dạy dỗ chàng mà thôi, chớ ông cha đã quá vãng
hết, bởi vậy chàng đặt tất cả tình thân yêu vào bà mẹ, phải mẹ vui
thì chàng mới vui, chớ mẹ buồn thì chàng không vui được. Nghe mẹ
dặn phải ân cần học tập để lập thân thì chàng đi học chàng chăm
chú, học siêng năng đặng làm cho vui lòng mẹ. Với ý trí ấy tự nhiên
chàng học mau tinh tấn, được mẹ với thầy rất vui lòng, mà cũng
được chúng bạn đều yêu mến.
Năm lên 13 tuổi, Đường thi đậu bằng tiểu học. Thím Xã Cầm thầm
nghĩ chàng còn nhỏ quá, để ở nhà không ích gì. Hơn nữa muốn làm
người thông thạo cần phải mở rộng vòng nghe thấy, nhứt là cần
phải tiếp xúc với đời cho biết hay dở dại khôn, bởi vậy thím đem
Đường lên Saigon, gởi ở nhà một người quen đặng chàng học tiếp
trong một trường tư thục cho ngày sau khỏi quê mùa nhút nhát.
Đường học được 4 năm. Mà năm sau chàng cứ bịnh hoài, học
không tấn phát. Thím Xã lên đem con đến bác sĩ khám sức khỏe.
Bác sĩ nói Đường phổi với tim đều không tốt. Ông khuyên kiếm chỗ
có cảnh thanh tịnh, có gió mát mẻ cho Đường ở tốt hơn là ở Saigon.
Thím Xã nghĩ vì trong họ Nguyễn của Đường không trường thọ, lại ít
con ít cháu, bây giờ chỉ còn có một mình Đường xơ rơ đó mà thôi.
Vậy điều cần thiết là phải duy trì sức khỏe cho con, chớ học cho
nhiều rồi mang bịnh mà phải chết sớm thì càng thêm hại. Huống chi
giá trị của con người do nơi tâm chí của đức hạnh, chớ không phải
nhờ học thức rộng, với địa vị cao. Nhà đã có sẵn cơm tiền, Đường
chẳng cần phải làm thầy hay làm ông đặng lãnh lương mà nuôi
sống.
Ở nhà lo tiếp dưỡng sức khỏe, chừng lớn khôn thì cưới vợ mà lập
gia đình, rồi cư xử cho đúng đắn, trong nhà lo phụng tự ông bà, giữ
sự nghiệp của tổ tiên, kính bà mẹ, yêu vợ con, ra đường biết hòa
nhã với mọi người, biết tuân hành pháp luật, làm được bao nhiêu
đó, tuy không cao sang, song cũng khỏi ai chê cười mà hổ thẹn.
Nghĩ như vậy thím Xã mới xin con thôi học, rồi rước con trở về nhà
mà hoạn dưỡng, tổ chức bề ăn ở cho con thong thả thảnh thơi,
khuyên con mua sách mua báo đặng đọc để giải khuây, sớm mơi
với chiều mát xúi con ra ruộng mà hứng thanh khí.
Sống giữa cảnh im lìm mát mẻ trong chốn thôn quê. Đường phục
sức khỏe lần lần. Bây giờ đã được 17 tuổi rồi, lại có lìa nhà xa mẹ
lên Sai gon ở học mấy năm, chàng đã được thấy thói đời với tình
người chút đỉnh. Về nhà hễ trời mát thì chàng hoặc vác cần câu đi
câu cá, hoặc thả bước qua chợ dạo chơi.
Trưa nắng và đêm tối thì chàng nằm đọc sách. Mọi việc trong nhà
cho tới việc ruộng nương và vườn tược thì mẹ đều dành lo lắng hết,
lại còn chăm nom từng miếng ăn giấc ngủ cho chàng nữa.
Không có cha, từ nhỏ Đường chỉ được bà mẹ tưng tiu nựng nịu mà
thôi. Thuở nay Đường yêu mẹ thiệt, nhưng yêu vì mẹ dỗ ngủ, mẹ
đút cơm, mẹ ẳm bồng, mẹ tắm rửa, yêu vì gần gũi mẹ đêm ngày,
nên thành thói quen mà yêu, tình yêu ấy chưa có ý nghĩa sâu xa cao
cả.
Hôm nay đã có trí suy xét, đã biết công ơn bà mẹ mang nặng đẻ
đau, dạy đủ điều, nuôi dạy không biết mỏi. Đường mới cảm thấy
công ơn nghĩa của mẹ chất ngất như non cao, minh mông như biển
rộng. Tình mẹ thương con không có ranh giới, tận tụy với con không
kể ngày đêm. Trước cảnh tình của bà mẹ như vậy, phận làm con
phải lo đền đáp, dầu hiểm nguy hay cực nhọc cho mấy đi nữa cũng
không được phép thối thoát hay lãng lơ.
Từ đây Đường mới lập tâm quyết chí thảo thuận với mẹ, chăm nom
làm cho mẹ vui luôn luôn, không để cho mẹ lo, không nên trái ý mẹ.
Trên mẹ vui tận tụy, dưới con quyết phục tùng; mẹ con chung sống
với mỗi người một tinh thần như vậy, thì làm sao mà không êm ấm
khắn khít được.
Gia đình của thím Xã Cầm trải qua chuỗi ngày thân yêu lai láng, ân
nghĩa tràn trề, không cần ham giàu mà tự nhiên cũng có ruộng thêm
nữa.
Ông thân của thím ở bên Rạch Đào qua đời, có để lại vài chục mẫu
ruộng. Anh em chia phần cho thím được 4 mẫu.
Ở bên nầy số lúa thím thâu góp hơn mười năm nay, thâu nhiều mà
xài ít, bởi vậy bạc tiền dành dụm hoá thành một số to. Nhơn dịp
người ta bán một sở ruộng 25 mẫu gần Chợ Trạm, biết ruộng rẻ,
thím xuất tiền mà mua thêm, thành ra ngày chồng chết để lại cho
thím 20 mẫu ruộng mà trong 14 năm thím gầy ra tới 60 mẫu để cho
con.
Bây giờ có ruộng nhiều, lại có ruộng xa nữa. Đường phải phụ giúp
với mẹ trong công việc cho mướn ruộng. Đường lãnh phần coi lập
tờ tá, và đi thăm chừng mấy sở ruộng xa. Chàng mua một chiếc xe
máy để đi cho tiện, sợ sắm xe ngựa còn phải tốn tiền mướn một
đứa bạn ở giữ ngựa.
Thím Xã thấy con biết tính lợi hại từng chút như vậy thì thím cười.
Từ khi con thôi học về ở nhà thì cái mộng làm sui đã bắt đầu
phưởng phất trong trí thím. Tuy chưa nói ra, song thím đã lóng nghe
coi nhà nào có con gái xứng đôi vừa lứa với Đường đặng thím dọ
dẫm tánh nết, nếu được thì thím bàn với con mà đi xem tướng mạo
rồi cậy mai mối xin cầu thân. Vì phận góa bụa đơn chiếc, thiệt thím
muốn làm sui trong làng dễ hơn là làm sui xa xuôi.
Thím cũng không có ý muốn kén chỗ giàu sang, nghĩ vì mẹ con thím
lo an phận thủ thường, không háo danh trục lợi mà cần phải kiếm
chỗ cao sang cho con nương dựa. Thím chỉ muốn sui gia thuộc nhà
hiền đức, nàng dâu có nết na, biết trọng lễ nghĩa, biết quý tiết hạnh
mà thôi. Giàu hay nghèo đều do mạng ở trời, mà con thím đã có
cơm tiền đủ sống thong thả mãn đời, không cần phải mong mỏi cậy
nhờ gia tài của vợ làm chi nữa.
Trong cuộc làm sui, thím Xã Cầm nêu ra mấy điều kiện dễ lắm, mà
xét lại thì khó vô cùng, những người ở gần nếu phải chỗ làm sui thì
họ không có con gái, hoặc có con mà con họ không gặp tuổi hay là
kém đức hạnh. Đời nào chỗ nào cũng vậy, dễ gì mà kiếm được một
nhà gồm vừa cha mẹ ăn ở hiền lương vừa con gái biết trọng tiết
hạnh.
Tại cái khó đó mà trót hai năm nay thím Xã không đành bụng chỗ
nào hết. Cùng thế rồi thím mới muốn dóng ý con, coi nó có cảm tình
với gái nào không rồi thím sẽ liệu định.
Một hôm, mẹ con ngồi nói chuyện thím Xã bèn nói với con:
- Năm nay, con đã 19 tuổi rồi, còn vài tháng bước qua hai mươi tuổi.
Đến tuổi nầy lo vợ cho con cũng vừa. Xưa rày, má có ý hỏi coi có ai
xứng với con hay không. Người ta có chỉ vài chỗ mà má không ưng
bụng.
- Má tính cưới vợ cho con làm chi gấp vậy má?
- Ba con không còn. Má chỉ có một mình con, chớ không phải nhiều
đứa. Má lo cưới dâu để may nó sanh con mà nối nghiệp tông môn.
Đó là một nhiệm vụ cần thiết của má, bởi vậy con lớn rồi má phải
tính chớ sao con.
- Ạ, má lo cho con có người nối nghiệp tông môn theo ý đó thì con
không dám cãi lại má. Nhưng riêng về phần con thì con ở trong nhà
hủ hỉ với má cũng đủ vui chẳng cần phải cưới vợ. Con có vợ, biết nó
có hiệp ý với mẹ con mình hay không. Nếu nó nghịch thì trong nhà
hết đầm ấm nữa.
- Thì má kiếm chỗ hiền đức mà cưới cho con, chớ cưới gái thất giáo
làm chi mà sợ nó nghịch. Má hỏi thiệt con, thuở nay con cảm tình
với một cô gái nào hay không?
- Thưa, không có. Con chưa hề để ý đến việc vợ chồng.
- Lớn rồi, con phải để ý chớ, "Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu
phụ". Vợ chồng là mối đạo đầu tiên của người quân tử. Phải có vợ
chồng mới tạo ra cha con, anh em, tôi chúa được.
- Con thưa thiệt với má, công ơn má nuôi dạy con nặng nề quá. Con
chưa đền đáp được chút nào, con muốn để tất cả lòng kính yêu của
con cho má. Nếu con có vợ thì con phải chia sớt sự kính yêu đó cho
vợ với cha mẹ vợ, là người chưa có ơn nghĩa gì với con hết. Tại
như vậy nên con không tính tới việc cưới vợ.
- Con nghĩ như vậy sao phải. Trong sự kính yêu, ai có phần nấy, chớ
đâu phải có vợ rồi con mắc yêu vợ, con hết yêu má, hay là con chắc
kính cha mẹ vợ, con hết kính má. Đã biết vợ chồng là người dưng,
thuở nay không quen biết nhau, nên chưa có cảm tình cảm nghĩa
chi hết. Nhưng ai cũng vậy, hễ cưới vợ rồi, vợ chồng chung sống với
nhau trong một nhà, lần lần gây cảm tình, rồi có cực chung lo với
nhau, còn gây thêm cảm nghĩa nữa.
Lâu ngày chầy tháng, tình nghĩa nặng dầy, vợ chồng mới ở đời với
nhau, tạo ra gia đình, sanh con đẻ cháu mà nối nghiệp cho tổ tiên.
Để má nói lại cho con hiểu. Ngày cha con mất con mới được có 3
tuổi, còn má 26 tuổi. Cha con để lại cho má ba nhiệm vụ hết sức
nặng nề - - một là thay thế cho cha con mà phụng tự cha mẹ ông bà,
hai là nuôi dạy con và tạo hạnh phúc cho con an vui trong đời sống
của con, ba là giữ sự nghiệp để truyền lại cho con hưởng.
Về nhiệm vụ thứ ba má làm vuông tròn, má còn làm lớn thêm gấp
ba lần hồi trước. Về nhiệm vụ thứ nhứt còn tam nham chưa dứt
khoát, con phải cưới vợ sanh con đặng tiếp theo mà phụng sự ông
bà, nối nghiệp cho cha, má có sống hoài được đâu mà làm việc đó.
Còn nhiệm vụ thứ nhì nữa, phải cưới vợ đặng gây hạnh phúc cho
con trước khi má chết chớ.
- Nếu con phải cưới vợ cho má trọn nghĩa với cha, thì dầu muốn dầu
không, con phải chịu, con không dám thất thoát. Má biết người, biết
đời hơn con, vậy má coi chỗ nào nên, hễ má chịu thì con chịu, con
không kén chọn chi hết.
- Con nói như vậy thì để thủng thẳng má liệu. Dầu thế nào má cũng
phải lựa nhà hiền đức mới chịu làm sui.
Cách ít ngày có một người bà con với thím Xã Cầm qua chợ Cần
Giuộc có việc riêng. Người ấy ở bên Rạch Đào, là chỗ tổ phụ của
thím, nhơn dịp mới ghé thăm thím. Thím tỏ ý muốn kiếm chỗ làm
sui. Người ấy mới chỉ ông Hội Đồng Mai ở trên Rạch Kiến, mà nói
hai vợ chồng ông hội đồng lối năm mươi tuổi, vẫn là người hiền đức,
có nhà cửa tử tế với mười mấy mẫu ruộng, chớ không phải giàu lớn,
song có ba người con, một trai hai gái. Người gái lớn có chồng làm
việc trên Saigon. Người trai kế đó có vợ rồi cũng làm việc trên
Saigon. Bây giờ còn người con gái út, tên Trần Thị Oanh, lối 18 - 19
tuổi, theo chị ở học mấy năm. Từ hồi năm ngoái mới đem về nhà
học nữ công và hủ hỉ với cha mẹ.
Thím Xã nghe như vậy có ý mừng, mới cậy người bà con đó dò hỏi,
đặng làm mai cưới cô Oanh cho Đường, nghĩ vì hai trẻ tuổi xê xích
với nhau, lại sui gia coi cũng xứng. Người bà con về nhà rồi bữa sau
lên Rạch Kiến nói chuyện làm mai. Hai vợ chồng hội đồng Mai bằng
lòng cho thím Xã Cầm đến coi cô Oanh.
Thím Xã Cầm thấy bề ăn ở của ông hội đồng Mai thì thím vừa ý; hỏi
thăm người ta thì người ta nói nhà đó không giàu nhưng hiền đức.
Lại cô Oanh nhỏ hơn Đường một tuổi và tướng mạo không có chỗ
nào chê được. Thím Xã Cầm về nhà hỏi ý con, thì Đường nói mẹ
liệu định thể nào tự ý mẹ, chớ chàng không chê khen chi hết. Thím
Xã Cầm mới cậy người bà con làm mai mối dùm, và nhắn vợ chồng
ông hội đồng qua nhà chơi cho biết. Không hiểu đàng gái bàn tính
với con lẽ nào mà hơn một tháng mới trả lời với ông mai chịu qua
coi nhà đàng trai. Ông mai mướn xe rước vợ chồng ông hội đồng
quan nhà Thím Xã Cầm ở ăn một bữa cơm, rồi về chịu gả con.
Tháng 11 năm đó cho đi lễ hỏi, rồi qua tháng 2 năm sau, Đường
được 20 tuổi rồi thì cho làm lễ cưới. Nhà sẵn cơm tiền dư dả, lại có
một đứa con mà thôi, thím Xã Cầm làm đám cưới hẳn hòi, nhóm họ
đãi đằng linh đình, sắm lễ vật với nữ trang đủ hết, lại mướn xe hơi đi
rước dâu rần rần.
Đám cưới xong rồi, khách về hết, đã dọn dẹp lại yên nơi, thím Xã
Cầm lộ sắc mặc vui mừng, bà con chòm xóm cũng đều ngó thấy.
Đường thấy mẹ vui chàng cũng vui. Nhưng vợ chồng ăn ở với nhau
được một tháng, chàng nhận thấy tánh ý của vợ chàng không giống
tánh ý của chàng chút nào hết. Chàng thì giản dị, ôn hòa không se
sua, ưa an tịnh; còn cô Oanh thì câu mâu, nóng nảy, ưa lòe lẹt, thích
ở Saigon đặng vui chơi.
Trong mấy tháng sau, cô lại than ở chốn thôn quê buồn bực cô chịu
không được. Cô xúi chàng lên Saigon, kiếm việc xin đi làm. Chàng
nói nhà có hai mẹ con, không thể nào chàng bỏ mẹ mà đi ở chỗ
khác được. Ở đâu cũng vậy hễ mẹ vui thì chàng vui, chớ chàng
không được phép tìm vui riêng mà bỏ mẹ hiu quạnh. Ngôn ngữ của
chàng thiệt thà mà rõ ràng dễ hiểu, thế mà cô không quen nghe, nên
cô không thấu ý nghĩa rồi cô buồn, cứ lửng lơ như người thất vọng.
Lâu lâu, Đường cảm thấy tánh tình của vợ chồng chàng khác nhau
như trắng với đen, thà lìa nhau ai đi đường nấy, họa may mới gặp
hạnh phúc được mà hưởng, chớ chung chạ hoài thì cả hai đều thảm
sầu đau khổ, không vui sướng gì.
Nhiều khi vợ đi về Rạch Kiến thăm cha mẹ ít bữa, Đường muốn bày
tỏ nỗi lòng của chàng cho mẹ nghe. Ngặt vì chàng cứ thấy mẹ vui
mừng cưới được vợ tử tế cho con, mẹ cưng dâu, khoe dâu, nói
chuyện với bà con chòm xóm mẹ không ngớt hãnh diện ngợi khen
dâu là con nhà hiền đức, chàng sợ nói ra, rồi mẹ buồn, mẹ lo chớ
không ích gì, bởi vậy chàng phải ngậm miệng cắn răng mà chịu.
Cô Oanh dòm thấy mẹ chồng tưng tiu quý trọng, còn chồng thì nhịn
nhục chìu lòn, cô lên nước lấn tới hiếp chồng; cô đi Saigon thường
hoài, hễ muốn đi thì thưa cho mẹ chồng hay nói đi thăm chị, thăm
anh rồi cô đi, không kể tới chồng, có khi cô đi vắng tới năm bảy bữa.
Có chồng được năm sáu năm cô Oanh đã quen thói khinh rẻ chồng,
rồi cô lại còn sanh tánh ghen tuông hỗn ẩu với chồng nữa. Đường
buồn quá chịu hết nổi, nên một đêm vợ đi Saigon, chàng ở nhà thở
than với mẹ, sợ gia đạo không yên.
Thím Xã Cầm bây giờ đã gần 50 tuổi rồi, lại làm sui với ông hội
đồng, bởi vậy làng xóm gọi là bà Xã chớ không kêu bằng thím như
hồi nhỏ vậy nữa.
Bà Xã Cầm nghe con than phiền bà mới an ủi, khuyên con đừng
buồn. Bà nói Oanh còn nhỏ tự nhiên hay nhớ anh nhớ chị, nhớ mẹ
nhớ cha, ham ăn mặc lòa loẹt, ưa xem hát và dự cuộc vui, đợi trong
ít năm nó sanh con, nó ham con nó thuần nết rồi nó ôn hòa cũng
như người khác.
Đường nghe mẹ nói như vậy, chàng nhớ mẹ dạy con trai, cưới vợ
chủ ý sanh con để nối nghiệp cho tổ tiên, chớ không có mục đích
nào khác. Chàng không dám cãi với mẹ sợ mẹ lo buồn nên không
dám nói nhiều nữa. Từ đây chàng quyết cầm lòng chịu khổ để cho
mẹ khỏi buồn. Mà chàng cũng xem vợ ở trong nhà như cái cối xay
lúa, hay là cái cối giã gạo, nên vợ muốn đi chỗ nào, muốn làm việc
chi thì chàng cũng không thèm để ý đến. Chàng cố tâm làm cho mẹ
vui lòng mà thôi. Chàng kể vợ như cái máy để đúc con, vì mẹ, vì
tông môn, nên chàng phải lau chùi săn sóc cái máy vậy thôi, dầu
máy có trục trặc làm cho chàng phải nhọc lòng, chàng cũng phải
ráng mà chịu, không cần than thở nữa.
Té ra Đường ăn ở với vợ trót 19 năm, chàng phải chịu đau lòng, bực
trí không biết bao nhiêu mà kể; mấy năm sau chàng đau khổ quá
đến sanh bịnh, rồi mới 39 tuổi mà chàng chết, không để lại cho mẹ
già một đứa cháu nội nào hết, mà trong khoảng đời sống đó, chàng
cũng không được nếm tình sâu nghĩa nặng của đạo vợ chồng chút
nào hết!
Thảm thay!... Tội nghiệp quá...
Tội nghiệp cho một góa phụ còn trẻ tuổi mà biết noi theo phong hoá
cổ truyền, chồng chết lo thủ tiết dạy con và kế nghiệp cho tông môn,
nhưng vì thiếu sáng suốt và thiếu kinh nghiệm về đường đời nên
nhiệm vụ không được vuông tròn.
Cũng tội nghiệp cho một nam nhi biết nâng cao nghĩa hiếu đạo, đáo
đáo thờ cha kính mẹ, ăn ở thủ phận hiền lành, nhưng vì không biết
tự trọng, không dám cương quyết, nên đời sống vợ chồng không có
đủ điều kiện mà xây nên hạnh phúc lại để cho hư hỏng.
Mà thật nhiều khi họa là ngòi của phước. Vậy để xem coi bà Xã
Cầm có biết đi sai đường mà hối ngộ hay không, rồi bà liệu lẽ nào
mà chuyển họa với phước.
Buổi chiều đó, ăn cơm sớm rồi, bà Xã Cầm biểu ông ba Tào, là
người ở làm vườn cho bà, bưng một chục ngọn bầu bí ương đã lên
cao rồi đem ra mà đặt vào cái dồng ông đã cuốc, và vô phân dọc
theo hàng rào phía trước sân. Bà đứng mà chỉ cho ông ba Tào đặt
bầu cho ngay hàng, có con Cát 15 tuổi, là cháu ngoại của người tá
điền ở dưới Mồng Gà, bà đem cả mẹ con nó về bà nuôi cả ba năm
nay, nó xẩn bẩn theo một bên bà mà chơi. Thấy ông ba Tào đã đặt
lên dồng được hai ngọn bầu rồi, bà biểu con Cát vô lấy cái lon lớn
múc nước đem ra, đặng bà tưới gốc bầu cho im đất. Bà dặn ông Ba
hễ để bầu đặt rồi, ngày mai ông phải lo đốn cây trâm bầu cho sẵn,
đặng chừng bầu bắt đầu bò, thì làm dàn cho nó leo, cặm cây dác
dàn vô trong sân thì xuôi theo ngọn gió chướng bầu bò mới mạnh.
Bà đương đứng nói láp dáp, thì ông Lê Đại Thắng, làm hiệu trưởng
trường Cần Giuộc hơn 20 năm. Ông mới hưu trí chừng một năm
nay, thấy trời mát ông đi chơi, nhơn tiện bước ông ghé thăm bà Xã.
Bà thấy ông bước vô sân bà lật đật chào hỏi:
- Tôi kính chào cậu Đốc. Hôm nọ tôi có một chút chuyện tôi muốn
hỏi cậu. Tôi sai trẻ qua coi có cậu ở nhà hay không thì mợ Đốc nói
cậu đi Saigon ở chơi với con cả tháng nay mà chưa về. Cậu về hồi
nào vậy?
- Tôi mới về hồi sớm mơi. Lóng nầy chị mạnh giỏi hay không chị
Xã?
- Mạnh. Cám ơn. Cậu có hai người con mà hai người đều dạy học,
lại có chồng có vợ hết rồi. Bây giờ cậu hưu trí, cậu thả đi chơi, khỏi
lo chi hết, khỏe quá hả?
- Dạy học mấy chục năm, tuổi gần sáu mươi rồi, tôi được phép nghỉ
mà chơi, chớ phải làm hoài hay sao chị. Ruộng của chị mùa nầy
trúng hay không?
- Khá. Nghe nói sở nào lúa cũng tốt đều hết. Còn đất của mợ Đốc ở
bển thế nào?
- Ối! Bả có năm sáu mẫu có nghĩa gì đâu. Bả cho mướn, lại mua lúa
xa mãi mỗi năm kiếm ít thiên 2 đủ ăn vậy thôi. Mà nghe nói năm nay
cũng dễ chịu.
- Cậu lên Saigon ở chơi với hai cháu, vậy mà hai cháu ở chung hay
là ở riêng?
- Hồi thằng Khoa mới được cấp bằng dạy trường Sư phạm Đất Hộ.
Từ ngày nó cưới vợ rồi thì nó mướn một căn phố mà ở riêng, song
cũng thuộc một đường với con Đào nên chị em nó cũng ở gần nhau.
- Chắc cậu lên cậu ở nhà cô giáo Đào.
- Không. Tôi ở với thằng Khoa.
- Con gái thường hay lo cơm nước áo quần cho cha mẹ. Sao cậu
không ở với con gái, lại ở với con trai?
- Vợ chồng con Đào mắc đi dạy học. Nó lại có con nhỏ, nó mướn vú
nuôi cho bú sữa bò. Hễ về nhà con Đào mắc lo cho con nó. Vợ
thằng Khoa ở nhà chớ không có đi làm. Nó mời tôi ở dưới nó đặng
nó rảnh nó lo cho tôi.
- Cậu có phước quá. Có con rồi có dâu có rể tử tế hết.
Ông Đốc học Thắng thấy con Cát bưng lon nước đem ra cho ông Ba
Tào tưới nước cho bầu, thì ông ngó nó trân trân rồi ông hỏi bà Xã
Cầm:
- Tôi nghe nói cách mấy năm trước chị có đem một đứa con nhỏ của
tá điền về chị nuôi, phải cháu nầy hay không chị?
- Phải. Tôi đem mẹ con nó về ở với tôi ba năm nay.
- Tôi coi nó giống thiệt chị à.
- Ai cũng nói giống, bởi vậy tôi mới đem về tôi nuôi đó. Mời cậu vô
nhà, vô uống nước nói chuyện chơi.
Bà Xã đi vô nhà. Ông Đốc thủng thẳng theo sau, mắt ngó mấy nọc
trầu trồng bên chái nhà, lá vàng khè, rồi ngó đám rau thơm trồng kế
đó tốt tươi dầy bịt.
Bà kéo ghế mời ông Đốc ngồi tại bàn giữa, bà kêu người trong nhà
biểu chế một bình trà mới mà đãi khách, rồi bà ngồi trên bộ ván gõ
lớn ngang đó têm trầu mà ăn.
Ông Đốc hỏi bà Xã:
- Cô hai về bên Rạch Kiến mấy năm nay cô có hay qua thăm chị hay
không vậy chị Xã?
- Đã lấy chồng khác rồi còn tình nghĩa gì mà thăm viếng.
- Có chồng khác thì có chớ. Làm dâu chị đã gần 20 năm, dầu chồng
chết, không có con, cũng phải nghĩ chút tình xưa nghĩa cũ coi mới
được chớ.
- Người ta có phải như mình vậy đâu cậu Đốc. Thiệt tôi lầm. Hồi
trước ai cũng khen nhà anh hội đồng là nhà hiền đức nên tôi mới
nong nả làm sui. Té ra con dâu không biết điều, mà sui gia cũng
chẳng ra gì hết. Mấy năm nay hễ nhớ tới thì tôi hối hận hết sức. Có
vậy mới biết lời khen chê của thiên hạ không nên tin, vì không đúng
với sự thật.
- Sắp nhỏ tôi nó gặp cô hai hoài. Nó nói cô có một đứa con nhỏ.
- Có con hay sao?
- Nó nói gặp cô đi chơi, có bồng đứa nhỏ chừng quá đôi nôi.
- Tôi không hay có con. Tôi chỉ nghe nó trở về bên Rạch Kiến ở
chừng vài tháng, rồi có chồng làm việc theo ở với chồng trên
Saigon. Lấy chồng khác không thèm nói với tôi, mà vợ chồng anh
Hội Đồng cũng không cho tôi hay. Ăn ở như vậy thì tôi hiểu người ta
đã dứt tình nghĩa rồi, nên tôi không muốn biết việc của người ta làm
chi nữa.
- Tại cậu Đường vô phước quá mới gặp vợ như vậy, hơi nào mà
phiền chị.
- Tôi cũng nghĩ như cậu vậy. Cậu nhắc tới Đường làm tôi mới nhớ...
Bà Xã nói chưa dứt câu thì cô Thâm, là mẹ của con Cát, đứa gái
bưng lon nước để tưới bầu ngoài trước đó, tay cô xách bình trà, tay
cô bưng cái tách, ở trong đi ra cúi đầu chào Ông Đốc, rồi để bình với
tách trà trước mặt ông. Bà Xã biểu: "Rót trà ra đi con, rót một tách
cho ông Đốc giải khát".
Ông Đốc liếc mắt nhìn cô thì thấy một thiếu phụ thôn quê, tuổi ngoài
ba mươi, mặc quần lãnh, áo bà ba lụa đen, tướng mạo yểu điệu,
gương mặc sáng rỡ nhưng hiền lành. Cô rót một tách trà rồi xách
bình đi vô để trong giỏ, cô mới bưng giỏ bình với một cái tách nữa
đem ra để dựa ô trầu chỗ Bà Xã ngồi.
Bà Xã mời ông Đốc uống trà và nói: "Tôi không biết chữ Việt. Từ
ngày Đường thôi học về ở nhà thì tôi giao hết bằng khoáng ruộng
đất cho nó giữ. Các tờ tá cho mướn ruộng nó cũng coi làm. Nó có
cái tủ cây riêng nên nó cất hết giấy tờ trong tủ của nó rồi nó giữ chìa
khóa. Năm nó bịnh, lối năm bảy tháng trước ngày nó chết, thừa bữa
vợ nó không có ở nhà, nó ôm giao cho tôi một cái gói, ngoài bao
giấy và buộc dây kỹ lưỡng chắc chắn...
Hạnh Phúc Lối Nào
vietmessenger.com
I. LẦN THEO LỐI CŨ
Ở thành thị hay ở thôn quê mỗi chỗ có một thứ vui riêng. Trong chốn
thôn quê, hễ mùa mưa vừa dứt, mùa nắng tới rồi, thì cảnh vật trông
ra vui vẻ lạ lùng, vui mà khỏi lo xẹp túi hao tiền, vui mà khỏi sợ xa
hoa trụy lạc.
Thú vui là thú vui được tiếp xúc với cảnh đời thiệt thà, thơ thới, giản
dị, ôn hòa của đám nông phu, vui được cảm thấy cách buồn lo, cách
bực tức, cách hối hận, cách thẹn thùa, cách yêu gia đình, cách quí
danh dự của hạng bình dân gái trai già trẻ. Phải gần gũi đặng thấy
rõ bề cư xử của người sống giữa đồng bái, mới thấu hiểu cá tánh và
tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Vậy ai muốn tìm hiểu thế thái nhân
tình thì nên nới ra khỏi chốn thị thành, mới biết thú vui đáng mến,
mới thấy sự thật đáng hiểu.
Nếu các bạn không tin lời của chúng tôi, thì chúng tôi mời các bạn đi
chơi với chúng tôi vài bữa. Chẳng cần phải lội lặn đi đâu cho xa.
Chúng ta đi xuống vùng Cần Giuộc cách Saigon vài chục cây số
ngàn mà thôi. Chúng ta chung sống với nông gia một thời gian, thì
cũng đủ cho chúng ta hài lòng và sáng trí.
Đây chúng tôi dỡ hé thử một góc bức màn đen tối che đậy cuộc
sanh sống thôn quê, dỡ hé cho các bạn liếc mắt sơ qua mà nhìn
xem ít gia đình nông dân, xem vài nhà có cơm tiền với vài nhà
thường thiếu hụt, xem người thiệt thà chơn chất chớ không phải dại
khờ, còn tham lam thiệt cũng dám hung hăng ngang ngược vậy.
Năm nầy cũng như các năm khác. Bước qua đầu tháng 11 thì buổi
chiều gió chướng thổi lai rai, còn đêm khuya gió bấc phất man mác.
Trong vườn quýt, cam đều đơm trái, bầu, mướp đua trổ bông, dưới
bầu trời xanh xanh với vài cụm mây trong trắng trắng.
Còn ngoài đồng thì rải rác có người đứng theo mấy bờ ruộng mà
câu cá, đầu đội nón lá, mình mặc quần áo sơ sài, đứng châm bẩm,
dầu rê cá lóc hay là nhử cá rô, cũng bền chí đứng cả buổi, không sợ
nắng, không biết mỏi.
Giữa cánh đồng minh mông, gần hay xa đâu đâu cũng là lúa, mấy
chú câu nầy giúp tạo ra một bức tranh đẹp đẽ, hữu cảnh, hữu nhơn,
lại có mấy xóm dạng dạng 1 phía trong xa, với rặng cây trâm bầu
áng trước mấy cái nhà sùm sụp.
Đồng im lìm, bằng phẳng, mấy đám lúa sớm đã chín rồi nên phơi
màu vàng, hứa hẹn áo quần Tết cho con, vợ. Mấy đám lúa lỡ, bông
trổ đã gần đều nên khoe màu xám xám, sắp giúp tiền để sắm lễ vật
mà cúng quải trong ba ngày xuân. Còn những đám lúa xanh dờn,
chỗ thì bụi đương nở, chỗ thì đã ngậm đòng đòng, cả thảy đều
chung giúp cho nông gia thanh toán chi phí hoặc nợ nần nuôi sống
gia đình quanh năm, mà còn dư để giúp cho tô điểm cửa nhà, hoặc
để dự phòng tốn hao bất trắc.
Trong vùng Cần Giuộc cũng như các vùng xa xôi khác, đến lúc nầy
nhơn dân giàu hay nghèo, thảy đều hân hoan thơ thới, quên hết các
cực nhọc đã qua để vui rước sung sướng sắp tới, bởi vậy già trẻ
đều lăng xăng rộn rực, người đi thăm lúa, kẻ lo trồng rau, mong ước
lúa bán được giá cao, hàng mua được giá thấp, đặng ngày Tết vui
say chơi ít bữa mà chào năm mới bình an mạnh giỏi.
Từ trong vườn trong rẫy ra ngoài ruộng ngoài sông, chỗ nào cũng
thấy cuộc sanh hoạt mạnh mẽ của con nhà nông. Ấy là triệu chứng
tâm hồn vững vàng cứng cõi của dân tộc Việt Nam cương quyết
sanh tồn, không kể cuộc đời đổi xây không sợ tai họa hăm dọa.
Ở trên Chợ Lớn đi xuống Cần Giuộc, khi gần tới dốc cầu đúc bắt để
qua chợ, nếu các bạn lưu ý thì tự nhiên các bạn sẽ thấy bên phía
tay mặt có một thớt vườn xum xê, nằm cách công lộ chừng một trăm
thước. Từ mé lộ vô tới vườn có một bờ đắp rộng lớn cao ráo, xe
ngựa xe hơi vô ra dễ dàng. Bờ phóng ngang qua đám ruộng, hai
bên không có trồng cây cối chi hết, đầu trong đi ngay vô giữa vườn,
không có cửa ngõ, nhưng phía nầy mỗi bên có trồng một hàng cây
bông bụp để làm hàng rào. Dài theo rào đó thì trồng cây sua đũa,
đến mùa nầy nó trổ bông trắng nõn xem cũng vui vui.
Qua khỏi rào rồi thì tới một cái sân rộng lớn, bỏ trống để mùa gặt
chất lúa bó mà đập, còn một bên thì có một cái chuồng lợp lá dừa
để nhốt trâu.
Sau cái sân nầy thì có một tòa nhà nhỏ, ngói ba căn hai chái, nền
đúc, cửa cuốn, cất theo kiểu xưa. Phía sau nữa mới có nhà bếp,
vựa lúa, chuồng heo, chuồng gà, chuồng vịt, rồi thì tới vườn có cau,
trầu, dừa, chuối trồng chen nhau lộn xộn.
Hỏi ra mới biết cuộc nhà nầy là cuộc của bà Xã Cầm ở. Xóm nầy
gồm hơn một chục nóc gia, chớ không phải bà Xã Cầm ở riêng một
mình. Vì bà ở đầu ngoài, lại có vườn áng khuất, các nhà khác ở dọc
theo mé rạch Cần Giuộc, nhằm phía sau vườn của bà, bởi vậy đi
ngoài công lộ ngó vô không thấy được. Cả xóm ai cũng là tá điền và
bà con xa xa với chồng bà hết.
Tưởng nên nói phứt cho các bạn hiểu bà Xã Cầm nầy là ai.
Bà Xã Cầm là một bà sương phụ năm nay đã 60 tuổi, đầu tóc bạc
hoa râm, răng rụng hết vài cái, nhưng sức khỏe bà vẫn còn đầy đủ.
Thuở nay bà ở với tá điền, tá thổ có, nhơn ở với bà con bên chồng
có nghĩa, bởi vậy trong làng trong xóm, từ già chí trẻ, ai cũng kính
mến bà. Mà cả vùng nầy từ cầu Ông Thình xuống Cần Giuộc, Mồng
Gà, Chợ Trạm, Cần Đước, qua tới Rạch Đào, Rạch Kiến, ai nghe
tên bà cũng đều kính nể.
Người ta nói quả quyết rằng không phải tại bà giàu có, nên bà được
thiên hạ kính nể - - Bà là một sương phụ, chồng bà hồi sanh tiền chỉ
mới làm chức Xã trưởng mà thôi, chớ không có oai quyền gì. Hiện
thời bà có nhà cửa ruộng đất, nhưng bình thường mỗi năm bà thâu
góp huê lợi lối hai ngàn rưỡi thùng lúa; bà phải mua trâu mướn bạn
làm dây ruộng trước nhà nên số lúa của bà mới lên được ba ngàn
thùng. Ấy vậy bà là người có cơm tiền, chớ không phải là người giàu
lớn, nên thiên hạ kiêng sợ. Sở dĩ người ta kính nể, ngợi khen bà chỉ
vì bà là người ham nhơn nghĩa, biết lễ giáo, bà biết thương nhà
nghèo, bà ở phải với bà con làng xóm, bà sẵn lòng cứu giúp những
người bị tai nạn, nhứt là bà biết thủ tiết với chồng, chồng chết hồi bà
26 tuổi mà bà ở góa nuôi con, ở góa trót 40 năm trường, không có
tiếng tăm chi hết, cái hạnh đó mới thiệt là quý.
Tại như vậy nên ở vùng Cần Giuộc, ai nghe nói đến tên bà Xã Cầm
thì cũng cho là bà là "người hiền đức". Bà được thiên hạ tặng cho
cái danh tốt như vậy thiệt là quý. Có nhiều bà, chồng làm đến chức
Hương Cả, có huê lợi hàng năm bằng mười số lúa của bà, mà nào
có được ai khen ngợi quý trọng như bà vậy đâu.
Bà Xã Cầm được như vậy là vì bà sanh trưởng trong nhà nho học ở
bên Rạch Đào. Ông thân sanh của bà hồi trước học thức rộng, làm
thuốc hay, ông dạy dỗ bà trong khuôn khổ nho giáo.
Nhũ danh của bà Lê Thị Nữ. Khi bà được 20 tuổi, cha mẹ gả bà cho
Nguyễn Văn Cầm, con trai của một ông Hương sư có cơm tiền ở
bên Cần Giuộc.
Về nhà chồng, nhờ có nho phong của cha ung đúc, nên bà giữ trọn
phận làm dâu thảo làm vợ hiền. Chẳng may làm dâu mới được một
năm thì cha mẹ chồng lần lượt chết hết. Vì chồng bà là con một
trong gia đình, bởi vậy bà tận tâm giúp chồng cư tang trúng đạo,
cúng tế đủ lễ.
Đến năm bà 23 tuổi, bà mới sanh được đứa con trai. Vợ chồng vui
mừng lựa tên Nguyễn Văn Đường mà đặt cho con.
Cha mẹ để lại một cuộc nhà với vài chục mẫu ruộng. Cầm tính lo
làm ruộng đặng nối nghiệp của mẹ cha.
Cầm cày cấy 4 mẫu đất chung quanh nhà, còn 16 mẫu xa thì chia
cho tá điền mướn. Trong nhà nhờ có vợ lo bề nội trợ, Cầm làm trong
ít năm thì số lúa đã được thêm nhiều.
Làng thấy Cầm có cơm tiền, lại tánh tình thuần hậu, mới ép cử làm
Xã trưởng. Không thể từ chối được. Cầm phải ép lòng lãnh chức mà
giúp việc làng. Nào dè làm xã trưởng chưa được một năm, Cầm
nhuốm bịnh rồi chết, bỏ lại người vợ góa 26 tuổi với đứa con côi cút
mới 3 tuổi.
Thím Xã Cầm chồng chết mà thím còn trẻ quá, sắc đẹp mới nở nên
hình dáng yêu kiều, nho phong dồi mài nên tánh tình thuần hậu; đã
vậy mà thím còn làm chủ một sự nghiệp khả ái, một năm có sẵn lúa
ngàn. Ấy là một miếng mồi ngon, mà treo nhem nhẻm cho bợm
tham tài với khách háo sắc gần xa, bởi vậy thiếu chi kẻ lân la hoặc
dòm ngó.
Thím xã ta lại không quan niệm cảnh đời sống tương lai của thím
như ý thiên hạ tưởng tượng. Thím nhận thấy trời đất từ đây phú cho
thím ba nhiệm vụ, ấy đều cao thượng cả ba.
Thứ nhứt: thủ tiết với chồng mà thờ chồng và thay thế cho chồng
mà phụng sự mẹ cha ông bà bên chồng
Thứ nhì: nuôi dạy đứa con thơ ngây đặng chừng khôn lớn nó đủ trí
mà nối nghiệp cho tông môn
Thứ ba: giữ gìn tài sản của ông cha lưu hạ, đặng ngày sau giao lại
cho con, nếu bành trướng thêm được thì càng tốt; còn như không
được thì cũng phải giữ cho y nguyên, không phép làm hao mòn mẻ
sứt.
Đã biết gánh thì nặng, đường thì xa, nhưng thím xã ta cương quyết
vừa xách, vừa bưng, thím để cả ba gánh lên vai rồi mạnh mẽ bước
vào đường đời, ngó ngay trước mặt mà đi tới, không kể yến anh
nhảy nhót trên rào hoặc hát ca ngoài ngõ.
Hễ nói sao thì làm vậy, dầu mệt cũng không thối chí, dầu buồn cũng
không thở than. Trót mấy năm thím Xã tiếp tục cày cấy ruộng gần và
cho mướn ruộng xa, cũng như hồi chồng còn sống. Thím chăm nom
thờ phụng cúng quẩy chồng và ông bà cha mẹ bên chồng hẳn hoi.
Thím cậy người trong xóm dạy con tập đọc tập viết, hễ rãnh thì thím
dạy con điều nên lẽ hư cho con nghe, chỉ tánh tốt tật xấu cho con
thấy, cố tâm ung đúc cho con trở nên người đứng đắn, mà cũng
mong gây đời hạnh phúc sẵn cho con an hưởng.
Khi bé Đường được 8 tuổi, thím cho qua trường Cần Giuộc học.
Thím kiểm điểm công lao của thím lại, thì thím nhận thấy cả ba
nhiệm vụ thím đều làm được vuông tròn. Số huê lợi cho mướn
ruộng với số lúa làm ra thím dành dụm được một số tiền khá lớn.
Thím tu bổ nhà cửa cho chắc chắn, dọn dẹp vườn sân cho sạch sẽ,
mà thím còn mua thêm được một sở ruộng 10 mẫu trong mé Rạch
Mồng Gà. Công phu được kết quả tốt đẹp như vậy càng nung chí
cho thím đi tới hoài. Bành trướng thêm sự nghiệp cho con và xây
dựng nền hạnh phúc để con hưởng, đó là hai mục tiêu của thím,
không bao giờ thím quên cho được.
Vốn con nhà có giáo dục, bé Đường biết kính mến cha mẹ, biết quý
trọng tông môn. Lớn lên chàng thấy trong gia đình có một mình bà
mẹ còn mà săn sóc dạy dỗ chàng mà thôi, chớ ông cha đã quá vãng
hết, bởi vậy chàng đặt tất cả tình thân yêu vào bà mẹ, phải mẹ vui
thì chàng mới vui, chớ mẹ buồn thì chàng không vui được. Nghe mẹ
dặn phải ân cần học tập để lập thân thì chàng đi học chàng chăm
chú, học siêng năng đặng làm cho vui lòng mẹ. Với ý trí ấy tự nhiên
chàng học mau tinh tấn, được mẹ với thầy rất vui lòng, mà cũng
được chúng bạn đều yêu mến.
Năm lên 13 tuổi, Đường thi đậu bằng tiểu học. Thím Xã Cầm thầm
nghĩ chàng còn nhỏ quá, để ở nhà không ích gì. Hơn nữa muốn làm
người thông thạo cần phải mở rộng vòng nghe thấy, nhứt là cần
phải tiếp xúc với đời cho biết hay dở dại khôn, bởi vậy thím đem
Đường lên Saigon, gởi ở nhà một người quen đặng chàng học tiếp
trong một trường tư thục cho ngày sau khỏi quê mùa nhút nhát.
Đường học được 4 năm. Mà năm sau chàng cứ bịnh hoài, học
không tấn phát. Thím Xã lên đem con đến bác sĩ khám sức khỏe.
Bác sĩ nói Đường phổi với tim đều không tốt. Ông khuyên kiếm chỗ
có cảnh thanh tịnh, có gió mát mẻ cho Đường ở tốt hơn là ở Saigon.
Thím Xã nghĩ vì trong họ Nguyễn của Đường không trường thọ, lại ít
con ít cháu, bây giờ chỉ còn có một mình Đường xơ rơ đó mà thôi.
Vậy điều cần thiết là phải duy trì sức khỏe cho con, chớ học cho
nhiều rồi mang bịnh mà phải chết sớm thì càng thêm hại. Huống chi
giá trị của con người do nơi tâm chí của đức hạnh, chớ không phải
nhờ học thức rộng, với địa vị cao. Nhà đã có sẵn cơm tiền, Đường
chẳng cần phải làm thầy hay làm ông đặng lãnh lương mà nuôi
sống.
Ở nhà lo tiếp dưỡng sức khỏe, chừng lớn khôn thì cưới vợ mà lập
gia đình, rồi cư xử cho đúng đắn, trong nhà lo phụng tự ông bà, giữ
sự nghiệp của tổ tiên, kính bà mẹ, yêu vợ con, ra đường biết hòa
nhã với mọi người, biết tuân hành pháp luật, làm được bao nhiêu
đó, tuy không cao sang, song cũng khỏi ai chê cười mà hổ thẹn.
Nghĩ như vậy thím Xã mới xin con thôi học, rồi rước con trở về nhà
mà hoạn dưỡng, tổ chức bề ăn ở cho con thong thả thảnh thơi,
khuyên con mua sách mua báo đặng đọc để giải khuây, sớm mơi
với chiều mát xúi con ra ruộng mà hứng thanh khí.
Sống giữa cảnh im lìm mát mẻ trong chốn thôn quê. Đường phục
sức khỏe lần lần. Bây giờ đã được 17 tuổi rồi, lại có lìa nhà xa mẹ
lên Sai gon ở học mấy năm, chàng đã được thấy thói đời với tình
người chút đỉnh. Về nhà hễ trời mát thì chàng hoặc vác cần câu đi
câu cá, hoặc thả bước qua chợ dạo chơi.
Trưa nắng và đêm tối thì chàng nằm đọc sách. Mọi việc trong nhà
cho tới việc ruộng nương và vườn tược thì mẹ đều dành lo lắng hết,
lại còn chăm nom từng miếng ăn giấc ngủ cho chàng nữa.
Không có cha, từ nhỏ Đường chỉ được bà mẹ tưng tiu nựng nịu mà
thôi. Thuở nay Đường yêu mẹ thiệt, nhưng yêu vì mẹ dỗ ngủ, mẹ
đút cơm, mẹ ẳm bồng, mẹ tắm rửa, yêu vì gần gũi mẹ đêm ngày,
nên thành thói quen mà yêu, tình yêu ấy chưa có ý nghĩa sâu xa cao
cả.
Hôm nay đã có trí suy xét, đã biết công ơn bà mẹ mang nặng đẻ
đau, dạy đủ điều, nuôi dạy không biết mỏi. Đường mới cảm thấy
công ơn nghĩa của mẹ chất ngất như non cao, minh mông như biển
rộng. Tình mẹ thương con không có ranh giới, tận tụy với con không
kể ngày đêm. Trước cảnh tình của bà mẹ như vậy, phận làm con
phải lo đền đáp, dầu hiểm nguy hay cực nhọc cho mấy đi nữa cũng
không được phép thối thoát hay lãng lơ.
Từ đây Đường mới lập tâm quyết chí thảo thuận với mẹ, chăm nom
làm cho mẹ vui luôn luôn, không để cho mẹ lo, không nên trái ý mẹ.
Trên mẹ vui tận tụy, dưới con quyết phục tùng; mẹ con chung sống
với mỗi người một tinh thần như vậy, thì làm sao mà không êm ấm
khắn khít được.
Gia đình của thím Xã Cầm trải qua chuỗi ngày thân yêu lai láng, ân
nghĩa tràn trề, không cần ham giàu mà tự nhiên cũng có ruộng thêm
nữa.
Ông thân của thím ở bên Rạch Đào qua đời, có để lại vài chục mẫu
ruộng. Anh em chia phần cho thím được 4 mẫu.
Ở bên nầy số lúa thím thâu góp hơn mười năm nay, thâu nhiều mà
xài ít, bởi vậy bạc tiền dành dụm hoá thành một số to. Nhơn dịp
người ta bán một sở ruộng 25 mẫu gần Chợ Trạm, biết ruộng rẻ,
thím xuất tiền mà mua thêm, thành ra ngày chồng chết để lại cho
thím 20 mẫu ruộng mà trong 14 năm thím gầy ra tới 60 mẫu để cho
con.
Bây giờ có ruộng nhiều, lại có ruộng xa nữa. Đường phải phụ giúp
với mẹ trong công việc cho mướn ruộng. Đường lãnh phần coi lập
tờ tá, và đi thăm chừng mấy sở ruộng xa. Chàng mua một chiếc xe
máy để đi cho tiện, sợ sắm xe ngựa còn phải tốn tiền mướn một
đứa bạn ở giữ ngựa.
Thím Xã thấy con biết tính lợi hại từng chút như vậy thì thím cười.
Từ khi con thôi học về ở nhà thì cái mộng làm sui đã bắt đầu
phưởng phất trong trí thím. Tuy chưa nói ra, song thím đã lóng nghe
coi nhà nào có con gái xứng đôi vừa lứa với Đường đặng thím dọ
dẫm tánh nết, nếu được thì thím bàn với con mà đi xem tướng mạo
rồi cậy mai mối xin cầu thân. Vì phận góa bụa đơn chiếc, thiệt thím
muốn làm sui trong làng dễ hơn là làm sui xa xuôi.
Thím cũng không có ý muốn kén chỗ giàu sang, nghĩ vì mẹ con thím
lo an phận thủ thường, không háo danh trục lợi mà cần phải kiếm
chỗ cao sang cho con nương dựa. Thím chỉ muốn sui gia thuộc nhà
hiền đức, nàng dâu có nết na, biết trọng lễ nghĩa, biết quý tiết hạnh
mà thôi. Giàu hay nghèo đều do mạng ở trời, mà con thím đã có
cơm tiền đủ sống thong thả mãn đời, không cần phải mong mỏi cậy
nhờ gia tài của vợ làm chi nữa.
Trong cuộc làm sui, thím Xã Cầm nêu ra mấy điều kiện dễ lắm, mà
xét lại thì khó vô cùng, những người ở gần nếu phải chỗ làm sui thì
họ không có con gái, hoặc có con mà con họ không gặp tuổi hay là
kém đức hạnh. Đời nào chỗ nào cũng vậy, dễ gì mà kiếm được một
nhà gồm vừa cha mẹ ăn ở hiền lương vừa con gái biết trọng tiết
hạnh.
Tại cái khó đó mà trót hai năm nay thím Xã không đành bụng chỗ
nào hết. Cùng thế rồi thím mới muốn dóng ý con, coi nó có cảm tình
với gái nào không rồi thím sẽ liệu định.
Một hôm, mẹ con ngồi nói chuyện thím Xã bèn nói với con:
- Năm nay, con đã 19 tuổi rồi, còn vài tháng bước qua hai mươi tuổi.
Đến tuổi nầy lo vợ cho con cũng vừa. Xưa rày, má có ý hỏi coi có ai
xứng với con hay không. Người ta có chỉ vài chỗ mà má không ưng
bụng.
- Má tính cưới vợ cho con làm chi gấp vậy má?
- Ba con không còn. Má chỉ có một mình con, chớ không phải nhiều
đứa. Má lo cưới dâu để may nó sanh con mà nối nghiệp tông môn.
Đó là một nhiệm vụ cần thiết của má, bởi vậy con lớn rồi má phải
tính chớ sao con.
- Ạ, má lo cho con có người nối nghiệp tông môn theo ý đó thì con
không dám cãi lại má. Nhưng riêng về phần con thì con ở trong nhà
hủ hỉ với má cũng đủ vui chẳng cần phải cưới vợ. Con có vợ, biết nó
có hiệp ý với mẹ con mình hay không. Nếu nó nghịch thì trong nhà
hết đầm ấm nữa.
- Thì má kiếm chỗ hiền đức mà cưới cho con, chớ cưới gái thất giáo
làm chi mà sợ nó nghịch. Má hỏi thiệt con, thuở nay con cảm tình
với một cô gái nào hay không?
- Thưa, không có. Con chưa hề để ý đến việc vợ chồng.
- Lớn rồi, con phải để ý chớ, "Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu
phụ". Vợ chồng là mối đạo đầu tiên của người quân tử. Phải có vợ
chồng mới tạo ra cha con, anh em, tôi chúa được.
- Con thưa thiệt với má, công ơn má nuôi dạy con nặng nề quá. Con
chưa đền đáp được chút nào, con muốn để tất cả lòng kính yêu của
con cho má. Nếu con có vợ thì con phải chia sớt sự kính yêu đó cho
vợ với cha mẹ vợ, là người chưa có ơn nghĩa gì với con hết. Tại
như vậy nên con không tính tới việc cưới vợ.
- Con nghĩ như vậy sao phải. Trong sự kính yêu, ai có phần nấy, chớ
đâu phải có vợ rồi con mắc yêu vợ, con hết yêu má, hay là con chắc
kính cha mẹ vợ, con hết kính má. Đã biết vợ chồng là người dưng,
thuở nay không quen biết nhau, nên chưa có cảm tình cảm nghĩa
chi hết. Nhưng ai cũng vậy, hễ cưới vợ rồi, vợ chồng chung sống với
nhau trong một nhà, lần lần gây cảm tình, rồi có cực chung lo với
nhau, còn gây thêm cảm nghĩa nữa.
Lâu ngày chầy tháng, tình nghĩa nặng dầy, vợ chồng mới ở đời với
nhau, tạo ra gia đình, sanh con đẻ cháu mà nối nghiệp cho tổ tiên.
Để má nói lại cho con hiểu. Ngày cha con mất con mới được có 3
tuổi, còn má 26 tuổi. Cha con để lại cho má ba nhiệm vụ hết sức
nặng nề - - một là thay thế cho cha con mà phụng tự cha mẹ ông bà,
hai là nuôi dạy con và tạo hạnh phúc cho con an vui trong đời sống
của con, ba là giữ sự nghiệp để truyền lại cho con hưởng.
Về nhiệm vụ thứ ba má làm vuông tròn, má còn làm lớn thêm gấp
ba lần hồi trước. Về nhiệm vụ thứ nhứt còn tam nham chưa dứt
khoát, con phải cưới vợ sanh con đặng tiếp theo mà phụng sự ông
bà, nối nghiệp cho cha, má có sống hoài được đâu mà làm việc đó.
Còn nhiệm vụ thứ nhì nữa, phải cưới vợ đặng gây hạnh phúc cho
con trước khi má chết chớ.
- Nếu con phải cưới vợ cho má trọn nghĩa với cha, thì dầu muốn dầu
không, con phải chịu, con không dám thất thoát. Má biết người, biết
đời hơn con, vậy má coi chỗ nào nên, hễ má chịu thì con chịu, con
không kén chọn chi hết.
- Con nói như vậy thì để thủng thẳng má liệu. Dầu thế nào má cũng
phải lựa nhà hiền đức mới chịu làm sui.
Cách ít ngày có một người bà con với thím Xã Cầm qua chợ Cần
Giuộc có việc riêng. Người ấy ở bên Rạch Đào, là chỗ tổ phụ của
thím, nhơn dịp mới ghé thăm thím. Thím tỏ ý muốn kiếm chỗ làm
sui. Người ấy mới chỉ ông Hội Đồng Mai ở trên Rạch Kiến, mà nói
hai vợ chồng ông hội đồng lối năm mươi tuổi, vẫn là người hiền đức,
có nhà cửa tử tế với mười mấy mẫu ruộng, chớ không phải giàu lớn,
song có ba người con, một trai hai gái. Người gái lớn có chồng làm
việc trên Saigon. Người trai kế đó có vợ rồi cũng làm việc trên
Saigon. Bây giờ còn người con gái út, tên Trần Thị Oanh, lối 18 - 19
tuổi, theo chị ở học mấy năm. Từ hồi năm ngoái mới đem về nhà
học nữ công và hủ hỉ với cha mẹ.
Thím Xã nghe như vậy có ý mừng, mới cậy người bà con đó dò hỏi,
đặng làm mai cưới cô Oanh cho Đường, nghĩ vì hai trẻ tuổi xê xích
với nhau, lại sui gia coi cũng xứng. Người bà con về nhà rồi bữa sau
lên Rạch Kiến nói chuyện làm mai. Hai vợ chồng hội đồng Mai bằng
lòng cho thím Xã Cầm đến coi cô Oanh.
Thím Xã Cầm thấy bề ăn ở của ông hội đồng Mai thì thím vừa ý; hỏi
thăm người ta thì người ta nói nhà đó không giàu nhưng hiền đức.
Lại cô Oanh nhỏ hơn Đường một tuổi và tướng mạo không có chỗ
nào chê được. Thím Xã Cầm về nhà hỏi ý con, thì Đường nói mẹ
liệu định thể nào tự ý mẹ, chớ chàng không chê khen chi hết. Thím
Xã Cầm mới cậy người bà con làm mai mối dùm, và nhắn vợ chồng
ông hội đồng qua nhà chơi cho biết. Không hiểu đàng gái bàn tính
với con lẽ nào mà hơn một tháng mới trả lời với ông mai chịu qua
coi nhà đàng trai. Ông mai mướn xe rước vợ chồng ông hội đồng
quan nhà Thím Xã Cầm ở ăn một bữa cơm, rồi về chịu gả con.
Tháng 11 năm đó cho đi lễ hỏi, rồi qua tháng 2 năm sau, Đường
được 20 tuổi rồi thì cho làm lễ cưới. Nhà sẵn cơm tiền dư dả, lại có
một đứa con mà thôi, thím Xã Cầm làm đám cưới hẳn hòi, nhóm họ
đãi đằng linh đình, sắm lễ vật với nữ trang đủ hết, lại mướn xe hơi đi
rước dâu rần rần.
Đám cưới xong rồi, khách về hết, đã dọn dẹp lại yên nơi, thím Xã
Cầm lộ sắc mặc vui mừng, bà con chòm xóm cũng đều ngó thấy.
Đường thấy mẹ vui chàng cũng vui. Nhưng vợ chồng ăn ở với nhau
được một tháng, chàng nhận thấy tánh ý của vợ chàng không giống
tánh ý của chàng chút nào hết. Chàng thì giản dị, ôn hòa không se
sua, ưa an tịnh; còn cô Oanh thì câu mâu, nóng nảy, ưa lòe lẹt, thích
ở Saigon đặng vui chơi.
Trong mấy tháng sau, cô lại than ở chốn thôn quê buồn bực cô chịu
không được. Cô xúi chàng lên Saigon, kiếm việc xin đi làm. Chàng
nói nhà có hai mẹ con, không thể nào chàng bỏ mẹ mà đi ở chỗ
khác được. Ở đâu cũng vậy hễ mẹ vui thì chàng vui, chớ chàng
không được phép tìm vui riêng mà bỏ mẹ hiu quạnh. Ngôn ngữ của
chàng thiệt thà mà rõ ràng dễ hiểu, thế mà cô không quen nghe, nên
cô không thấu ý nghĩa rồi cô buồn, cứ lửng lơ như người thất vọng.
Lâu lâu, Đường cảm thấy tánh tình của vợ chồng chàng khác nhau
như trắng với đen, thà lìa nhau ai đi đường nấy, họa may mới gặp
hạnh phúc được mà hưởng, chớ chung chạ hoài thì cả hai đều thảm
sầu đau khổ, không vui sướng gì.
Nhiều khi vợ đi về Rạch Kiến thăm cha mẹ ít bữa, Đường muốn bày
tỏ nỗi lòng của chàng cho mẹ nghe. Ngặt vì chàng cứ thấy mẹ vui
mừng cưới được vợ tử tế cho con, mẹ cưng dâu, khoe dâu, nói
chuyện với bà con chòm xóm mẹ không ngớt hãnh diện ngợi khen
dâu là con nhà hiền đức, chàng sợ nói ra, rồi mẹ buồn, mẹ lo chớ
không ích gì, bởi vậy chàng phải ngậm miệng cắn răng mà chịu.
Cô Oanh dòm thấy mẹ chồng tưng tiu quý trọng, còn chồng thì nhịn
nhục chìu lòn, cô lên nước lấn tới hiếp chồng; cô đi Saigon thường
hoài, hễ muốn đi thì thưa cho mẹ chồng hay nói đi thăm chị, thăm
anh rồi cô đi, không kể tới chồng, có khi cô đi vắng tới năm bảy bữa.
Có chồng được năm sáu năm cô Oanh đã quen thói khinh rẻ chồng,
rồi cô lại còn sanh tánh ghen tuông hỗn ẩu với chồng nữa. Đường
buồn quá chịu hết nổi, nên một đêm vợ đi Saigon, chàng ở nhà thở
than với mẹ, sợ gia đạo không yên.
Thím Xã Cầm bây giờ đã gần 50 tuổi rồi, lại làm sui với ông hội
đồng, bởi vậy làng xóm gọi là bà Xã chớ không kêu bằng thím như
hồi nhỏ vậy nữa.
Bà Xã Cầm nghe con than phiền bà mới an ủi, khuyên con đừng
buồn. Bà nói Oanh còn nhỏ tự nhiên hay nhớ anh nhớ chị, nhớ mẹ
nhớ cha, ham ăn mặc lòa loẹt, ưa xem hát và dự cuộc vui, đợi trong
ít năm nó sanh con, nó ham con nó thuần nết rồi nó ôn hòa cũng
như người khác.
Đường nghe mẹ nói như vậy, chàng nhớ mẹ dạy con trai, cưới vợ
chủ ý sanh con để nối nghiệp cho tổ tiên, chớ không có mục đích
nào khác. Chàng không dám cãi với mẹ sợ mẹ lo buồn nên không
dám nói nhiều nữa. Từ đây chàng quyết cầm lòng chịu khổ để cho
mẹ khỏi buồn. Mà chàng cũng xem vợ ở trong nhà như cái cối xay
lúa, hay là cái cối giã gạo, nên vợ muốn đi chỗ nào, muốn làm việc
chi thì chàng cũng không thèm để ý đến. Chàng cố tâm làm cho mẹ
vui lòng mà thôi. Chàng kể vợ như cái máy để đúc con, vì mẹ, vì
tông môn, nên chàng phải lau chùi săn sóc cái máy vậy thôi, dầu
máy có trục trặc làm cho chàng phải nhọc lòng, chàng cũng phải
ráng mà chịu, không cần than thở nữa.
Té ra Đường ăn ở với vợ trót 19 năm, chàng phải chịu đau lòng, bực
trí không biết bao nhiêu mà kể; mấy năm sau chàng đau khổ quá
đến sanh bịnh, rồi mới 39 tuổi mà chàng chết, không để lại cho mẹ
già một đứa cháu nội nào hết, mà trong khoảng đời sống đó, chàng
cũng không được nếm tình sâu nghĩa nặng của đạo vợ chồng chút
nào hết!
Thảm thay!... Tội nghiệp quá...
Tội nghiệp cho một góa phụ còn trẻ tuổi mà biết noi theo phong hoá
cổ truyền, chồng chết lo thủ tiết dạy con và kế nghiệp cho tông môn,
nhưng vì thiếu sáng suốt và thiếu kinh nghiệm về đường đời nên
nhiệm vụ không được vuông tròn.
Cũng tội nghiệp cho một nam nhi biết nâng cao nghĩa hiếu đạo, đáo
đáo thờ cha kính mẹ, ăn ở thủ phận hiền lành, nhưng vì không biết
tự trọng, không dám cương quyết, nên đời sống vợ chồng không có
đủ điều kiện mà xây nên hạnh phúc lại để cho hư hỏng.
Mà thật nhiều khi họa là ngòi của phước. Vậy để xem coi bà Xã
Cầm có biết đi sai đường mà hối ngộ hay không, rồi bà liệu lẽ nào
mà chuyển họa với phước.
Buổi chiều đó, ăn cơm sớm rồi, bà Xã Cầm biểu ông ba Tào, là
người ở làm vườn cho bà, bưng một chục ngọn bầu bí ương đã lên
cao rồi đem ra mà đặt vào cái dồng ông đã cuốc, và vô phân dọc
theo hàng rào phía trước sân. Bà đứng mà chỉ cho ông ba Tào đặt
bầu cho ngay hàng, có con Cát 15 tuổi, là cháu ngoại của người tá
điền ở dưới Mồng Gà, bà đem cả mẹ con nó về bà nuôi cả ba năm
nay, nó xẩn bẩn theo một bên bà mà chơi. Thấy ông ba Tào đã đặt
lên dồng được hai ngọn bầu rồi, bà biểu con Cát vô lấy cái lon lớn
múc nước đem ra, đặng bà tưới gốc bầu cho im đất. Bà dặn ông Ba
hễ để bầu đặt rồi, ngày mai ông phải lo đốn cây trâm bầu cho sẵn,
đặng chừng bầu bắt đầu bò, thì làm dàn cho nó leo, cặm cây dác
dàn vô trong sân thì xuôi theo ngọn gió chướng bầu bò mới mạnh.
Bà đương đứng nói láp dáp, thì ông Lê Đại Thắng, làm hiệu trưởng
trường Cần Giuộc hơn 20 năm. Ông mới hưu trí chừng một năm
nay, thấy trời mát ông đi chơi, nhơn tiện bước ông ghé thăm bà Xã.
Bà thấy ông bước vô sân bà lật đật chào hỏi:
- Tôi kính chào cậu Đốc. Hôm nọ tôi có một chút chuyện tôi muốn
hỏi cậu. Tôi sai trẻ qua coi có cậu ở nhà hay không thì mợ Đốc nói
cậu đi Saigon ở chơi với con cả tháng nay mà chưa về. Cậu về hồi
nào vậy?
- Tôi mới về hồi sớm mơi. Lóng nầy chị mạnh giỏi hay không chị
Xã?
- Mạnh. Cám ơn. Cậu có hai người con mà hai người đều dạy học,
lại có chồng có vợ hết rồi. Bây giờ cậu hưu trí, cậu thả đi chơi, khỏi
lo chi hết, khỏe quá hả?
- Dạy học mấy chục năm, tuổi gần sáu mươi rồi, tôi được phép nghỉ
mà chơi, chớ phải làm hoài hay sao chị. Ruộng của chị mùa nầy
trúng hay không?
- Khá. Nghe nói sở nào lúa cũng tốt đều hết. Còn đất của mợ Đốc ở
bển thế nào?
- Ối! Bả có năm sáu mẫu có nghĩa gì đâu. Bả cho mướn, lại mua lúa
xa mãi mỗi năm kiếm ít thiên 2 đủ ăn vậy thôi. Mà nghe nói năm nay
cũng dễ chịu.
- Cậu lên Saigon ở chơi với hai cháu, vậy mà hai cháu ở chung hay
là ở riêng?
- Hồi thằng Khoa mới được cấp bằng dạy trường Sư phạm Đất Hộ.
Từ ngày nó cưới vợ rồi thì nó mướn một căn phố mà ở riêng, song
cũng thuộc một đường với con Đào nên chị em nó cũng ở gần nhau.
- Chắc cậu lên cậu ở nhà cô giáo Đào.
- Không. Tôi ở với thằng Khoa.
- Con gái thường hay lo cơm nước áo quần cho cha mẹ. Sao cậu
không ở với con gái, lại ở với con trai?
- Vợ chồng con Đào mắc đi dạy học. Nó lại có con nhỏ, nó mướn vú
nuôi cho bú sữa bò. Hễ về nhà con Đào mắc lo cho con nó. Vợ
thằng Khoa ở nhà chớ không có đi làm. Nó mời tôi ở dưới nó đặng
nó rảnh nó lo cho tôi.
- Cậu có phước quá. Có con rồi có dâu có rể tử tế hết.
Ông Đốc học Thắng thấy con Cát bưng lon nước đem ra cho ông Ba
Tào tưới nước cho bầu, thì ông ngó nó trân trân rồi ông hỏi bà Xã
Cầm:
- Tôi nghe nói cách mấy năm trước chị có đem một đứa con nhỏ của
tá điền về chị nuôi, phải cháu nầy hay không chị?
- Phải. Tôi đem mẹ con nó về ở với tôi ba năm nay.
- Tôi coi nó giống thiệt chị à.
- Ai cũng nói giống, bởi vậy tôi mới đem về tôi nuôi đó. Mời cậu vô
nhà, vô uống nước nói chuyện chơi.
Bà Xã đi vô nhà. Ông Đốc thủng thẳng theo sau, mắt ngó mấy nọc
trầu trồng bên chái nhà, lá vàng khè, rồi ngó đám rau thơm trồng kế
đó tốt tươi dầy bịt.
Bà kéo ghế mời ông Đốc ngồi tại bàn giữa, bà kêu người trong nhà
biểu chế một bình trà mới mà đãi khách, rồi bà ngồi trên bộ ván gõ
lớn ngang đó têm trầu mà ăn.
Ông Đốc hỏi bà Xã:
- Cô hai về bên Rạch Kiến mấy năm nay cô có hay qua thăm chị hay
không vậy chị Xã?
- Đã lấy chồng khác rồi còn tình nghĩa gì mà thăm viếng.
- Có chồng khác thì có chớ. Làm dâu chị đã gần 20 năm, dầu chồng
chết, không có con, cũng phải nghĩ chút tình xưa nghĩa cũ coi mới
được chớ.
- Người ta có phải như mình vậy đâu cậu Đốc. Thiệt tôi lầm. Hồi
trước ai cũng khen nhà anh hội đồng là nhà hiền đức nên tôi mới
nong nả làm sui. Té ra con dâu không biết điều, mà sui gia cũng
chẳng ra gì hết. Mấy năm nay hễ nhớ tới thì tôi hối hận hết sức. Có
vậy mới biết lời khen chê của thiên hạ không nên tin, vì không đúng
với sự thật.
- Sắp nhỏ tôi nó gặp cô hai hoài. Nó nói cô có một đứa con nhỏ.
- Có con hay sao?
- Nó nói gặp cô đi chơi, có bồng đứa nhỏ chừng quá đôi nôi.
- Tôi không hay có con. Tôi chỉ nghe nó trở về bên Rạch Kiến ở
chừng vài tháng, rồi có chồng làm việc theo ở với chồng trên
Saigon. Lấy chồng khác không thèm nói với tôi, mà vợ chồng anh
Hội Đồng cũng không cho tôi hay. Ăn ở như vậy thì tôi hiểu người ta
đã dứt tình nghĩa rồi, nên tôi không muốn biết việc của người ta làm
chi nữa.
- Tại cậu Đường vô phước quá mới gặp vợ như vậy, hơi nào mà
phiền chị.
- Tôi cũng nghĩ như cậu vậy. Cậu nhắc tới Đường làm tôi mới nhớ...
Bà Xã nói chưa dứt câu thì cô Thâm, là mẹ của con Cát, đứa gái
bưng lon nước để tưới bầu ngoài trước đó, tay cô xách bình trà, tay
cô bưng cái tách, ở trong đi ra cúi đầu chào Ông Đốc, rồi để bình với
tách trà trước mặt ông. Bà Xã biểu: "Rót trà ra đi con, rót một tách
cho ông Đốc giải khát".
Ông Đốc liếc mắt nhìn cô thì thấy một thiếu phụ thôn quê, tuổi ngoài
ba mươi, mặc quần lãnh, áo bà ba lụa đen, tướng mạo yểu điệu,
gương mặc sáng rỡ nhưng hiền lành. Cô rót một tách trà rồi xách
bình đi vô để trong giỏ, cô mới bưng giỏ bình với một cái tách nữa
đem ra để dựa ô trầu chỗ Bà Xã ngồi.
Bà Xã mời ông Đốc uống trà và nói: "Tôi không biết chữ Việt. Từ
ngày Đường thôi học về ở nhà thì tôi giao hết bằng khoáng ruộng
đất cho nó giữ. Các tờ tá cho mướn ruộng nó cũng coi làm. Nó có
cái tủ cây riêng nên nó cất hết giấy tờ trong tủ của nó rồi nó giữ chìa
khóa. Năm nó bịnh, lối năm bảy tháng trước ngày nó chết, thừa bữa
vợ nó không có ở nhà, nó ôm giao cho tôi một cái gói, ngoài bao
giấy và buộc dây kỹ lưỡng chắc chắn...
 





