Trường em tây tiến
Nhung tam long cao ca

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:22' 07-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 12h:22' 07-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Những tấm lòng cao cả
Edmondo De Amicis
Hoàng Thiếu Sơn dịch
Nhà xuất bản Hội nhà văn 2000
Nguồn: Tve-4u
Tạo ebook lần đầu: motsachgia
Hiệu đính và tạo ebook lần hai: Caruri
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
MỞ ĐẦU
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
Thầy giáo mới
Một tai nạn
Cậu bé xứ Calabria
Các bạn học của tôi
Một hành vi hào hiệp
Cô giáo lớp một trên của tôi
Trong một căn gác xép
Trường học
Cậu bé yêu nước Padova
THÁNG MƯỜI MỘT
Cậu bé nạo ống khói
Bạn Garrone của tôi
Bác bán than với ông quý tộc
Cô giáo của em trai tôi
Mẹ tôi
Bạn Coretti của tôi
Thầy hiệu trưởng
Những người lính
Người bảo vệ Nelli
Người đầu lớp
Cậu bé trinh sát người Lombard
Những người nghèo khổ
THÁNG MƯỜI HAI
Anh chàng kinh doanh
Tính khoe khoang
Tuyết đầu mùa
Cậu bé thợ nề
Quả cầu tuyết
Các cô giáo
Đến nhà người bị thương
ế
Cậu bé viết thuê người Firenze
Nghị lực
Lòng biết ơn
THÁNG GIÊNG
Thầy phụ giáo
Tủ sách của Stardi
Con trai bác thợ rèn
Một buổi thăm nhau lý thú
Franti bị đuổi học
Cậu bé đánh trống người Sardegna
Tình yêu nước
Tính đố kỵ
Bà mẹ Franti
THÁNG HAI
Chiếc huy chương xứng đáng
Quyết tâm đúng đắn
Bộ đồ chơi xe lửa
Tính kiêu ngạo
Những người bị thương tật vì tai nạn lao động
Người tù
Người y tá của tata
Xưởng thợ
Cậu bé làm xiếc
Những trẻ em mù
Thầy giáo ốm
Ngoài đường phố
THÁNG BA
Những lớp học buổi tối
Đánh nhau
Các bố mẹ học sinh
Người số 78
Cậu bé chết
Hôm trước ngày 14 tháng 3
Lễ phát phần thưởng
Một vụ cãi lộn
Máu nóng người Romagna
Cậu bé thợ nề ốm nặng
THÁNG TƯ
Mùa xuân
Vườn trẻ
Buổi thể dục
Thầy giáo của bố
Dưỡng bệnh
Những người bạn thợ thuyền
Bà mẹ Garrone
Phẩm giá công dân
THÁNG NĂM
Hy sinh
Đám cháy
Từ mạch Appennini đến mạch Andes
Mùa hè
Chất thơ
Cô gái câm điếc
THÁNG SÁU
32 độ
Bố tôi
Về đồng quê
Lễ phát phần thưởng cho công nhân
Cái chết của cô giáo tôi
Những lời cảm ơn
Một vụ đắm tàu
THÁNG BẢY
Trang thư cuối cùng của mẹ tôi
Các buổi thi
Buổi thi cuối cùng
Từ biệt
[1]
MỞ ĐẦU
Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy
ai không biết nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn
được trẻ em yêu thích ấy lại không phải là người chuyên viết
sách về trẻ em hay cho trẻ em.
De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia,
xứ Liguria, trên bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải
phóng và thống nhất Ý bắt đầu từ năm 1820, đến năm 1870
mới hoàn thành là phong trào dân tộc lớn nhất lịch sử châu u
trong thế kỷ XIX. Khi trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm
lược Áo trong cách mạng 1848 diễn ra thì chú bé Edmondo
chưa được hai tuổi; nhưng trận Custoza thứ hai diễn ra, thì
người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy hai mươi tuổi De
Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24 tháng sáu 1866
ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ quân đội Ý.
Người thanh niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm sau tác
phẩm đầu tay ra đời, tập hợp một số truyện vừa dưới nhan đề
Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc
đời quân ngũ” đi du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể
tài khác: thể du ký. Và các tác phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây
Ban Nha (1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876),
Constantinopolis (1878-79) và cuốn Chân dung văn hào
(Ritratti letterari, 1881) được viết để tỏ lòng ngưỡng mộ
những nhà văn lớn đương thời.
Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất
nghèo, công nghiệp chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích
mênh mông, dân số tăng nhanh, người Ý phải di cư rất nhiều
đến đất khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung bình hơn nửa
triệu, có năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn
đề rất lớn trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và
đầu tiên lấy làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương
(Sull'oceano). Năm sau, 1890, lại tiếp theo cuốn Truyện một
người chủ (Il romanzo d'un maestro).
Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và
người theo chủ nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia
nông dân tổ chức những hiệp hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu
nổi dậy. Không sống bàng quan, ngay năm 1891 De Amicis đã
tham gia Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế, và
từ đấy đấu tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời
sống của người nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến
thành chiến sĩ, diễn thuyết khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn
đề xã hội; sau thu nhập những diễn văn ấy xuất bản thành tập
Vấn đề xã hội (Questione sociale, l894). Đảng mình bị khủng
bố dữ, De Amicis vẫn chiến đấu không ngừng. Những cuộc
nổi dậy của quần chúng nghèo khổ và những đợt đàn áp của
chính quyền tư sản đều được lấy làm đề tài cho luận văn chính
trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy
đã chiến đấu cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài
bốn mươi tuổi lại phải đấu tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi
của công bằng xã hội; và De Amicis qua đời ở Bordighera tỉnh
Genova, ngày 12 tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61 tuổi.
Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis
chuyên viết du ký và phê bình văn học, một nửa viết về các
chủ đề chính trị và xã hội, tác phẩm để lại cũng khá nhiều và
sinh thời của tác giả cũng gây ra tiếng vang không ít; nhưng
mà thành công nhất có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ
nhàng, thoải mái, tựa hồ chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công
phu, nhiều nhiệt tình như mọi cuốn khác: Những người bạn dí
dỏm, thân mật, đầy lòng thương người, và nhất là Tấm lòng
(Cuore) mà thế giới quen gọi là Những tấm lòng cao cả, ra đời
vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và gần một trăm năm
nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế giới. Nhưng
được như vậy chính là vì cuốn Cuore ấy mang một hoài bão
thiết tha của tác giả, “bấy lâu nay một chút lòng…”
Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại
những việc lớn nhỏ diễn ra trong đời học sinh của cậu, những
cảm tưởng và suy nghĩ của cậu thành một cuốn nhật ký. Mỗi
tháng, thầy giáo cho phép một truyện để đọc trong lớp, mỗi
tháng, bố hay mẹ viết cho con một lá thư; các thư và truyện ấy
đều được xếp vào cuốn nhật ký. Ghi chép trong mười tháng,
đó là một cuốn truyện nhỏ về năm học của cậu bé mười một
tuổi.
Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn
học của Enrico, là bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi
người một vẻ, có một đặc điểm nhất định về mặt thể chất hay
tinh thần, nhất là các bạn của Enrico. Tính cách các nhân vật
đã được cách điệu hóa để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là
một thói quen, vì đấy không phải là một tác phẩm phản ánh
nền giáo dục ở nước Ý cuối thế kỷ XIX, mà là một tác phẩm
mượn hình tượng nghệ thuật để trình bày những điều suy nghĩ
về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác giả mang trong óc
như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài bão. Trong các
trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi những việc
mà ở trường có vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn chép cả
những việc ở nhà có vai trò của bố mẹ mình, lại cũng không
bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham gia của người
ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn dạy
đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường,
của gia đình và của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải
thương yêu học trò. Coretti vác củi từ năm giờ sáng, vào lớp
ngủ thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới đánh thức dậy,
rồi ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy
không mắng đâu. Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải
làm lụng nhiều”. Cuối năm, học sinh thi đều khá; để làm cho
họ vui, thầy giáo tóc đã hoa râm và không bao giờ cười ấy lại
làm bộ trượt chân, phải bám vào tường cho khỏi ngã. Phải
chăng đó là “cái phút vui độc nhất của thầy? một sự đền bù
cho chín tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và phiền muộn
nữa?” Enrico ghi vào nhật ký như thế. Thầy có vật kỷ niệm là
ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi năm thầy treo đầu
giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của thầy
sẽ quay về họ”.
Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn
nghỉ - ở nước Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về
hưu, vì kinh nghiệm và lương tâm của nhà giáo càng thâm
niên càng được xã hội quý trọng - nhưng vì run tay trót đánh
rơi một giọt mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải xin
về. Và cụ tâm sự: “Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi
hiểu rằng cuộc đời với tôi như vậy là hết rồi, không có trường
học nữa, không còn có sức trẻ nữa, tôi cũng không sống được
bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận tụy với nghề, cụ giáo
Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm ván tồi tàn làm
giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn, khiến cho
học trò đã hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó là tất
cả phần thưởng của thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem
nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của mình. Và ở trường học
cũng có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô giáo lớp
một trên của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn
luôn át cả lớp học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không
thể lơ đễnh được. Cô có thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy,
nhưng không muốn xa học trò, cô cứ dạy cho hết năm, và cô
đã mất ba ngày trước khi dạy hết chương trình.
Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy
nhanh ra khỏi lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có
trên đời, và trước khi chết, yêu cầu thầy hiệu trưởng đừng cho
học trò đi theo đám tang, sợ các em khóc. Qua bút mực của trẻ
con, De Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề
dạy học, với những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có
vài nét chấm phá, nhưng không dễ mà quên được. Trong gia
đình Enrico, tháng nào bố hay mẹ cũng viết cho con một lá
thư, không phải vì đi đâu gửi về, mà ở ngay trong nhà viết đưa
cho con đọc và suy nghĩ; thư thì khuyên răn, thư thì cảnh cáo,
có khi là trách mắng. Đó là những trường hợp phải “nói
chuyện” với con một cách trang nghiêm. Trong một xã hội văn
minh, những người bố, mẹ không phải chỉ là trông nom, săn
sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con người khác, đến
trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả “những
người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút
của trẻ để nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm
lòng cao cả không phải chỉ là một cuốn sách riêng dành cho
thiếu nhi, mà lại còn là một cuốn sách viết cho cô giáo, thầy
giáo cho bố mẹ học sinh và cho những người lớn trong xã hội
nữa.
Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói
gì về vấn đề dạy dỗ con trẻ?
Dạy trẻ nên dạy những gì?
Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi
cho mình, hay là chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua
lời Garrone khuyên Garoffi thú tội, rồi lời ông Bottini dạy con,
mấy lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận. Trong các tính
xấu, De Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy
Perboni hiền từ như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại
đánh Crossi, đã phải nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi
làm một việc hèn hạ nhất và nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ
lương tâm con người: các cậu là những kẻ hèn nhát!” Lạm
dụng lòng tốt của người khác cũng là hèn: khi cả lớp làm ồn
trong giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone chỉnh các bạn: “Các
cậu lạm dụng lòng tốt của thầy, việc làm của các cậu hèn nhát
lắm”.
Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên
hình ảnh trẻ em tất cả các nước trên thế giới đi đến trường học
như một đạo quân lớn, để khuyên con: “Đừng bao giờ làm một
người lính nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng lười biếng
cũng là hèn nhát vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn
phận học tập. Trong bức thư viết cho Enrico, không có lá thư
nào của ông bà Bottini mà nghiêm khắc như hai bức thư trách
mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói với bố mẹ. “Thà rằng bố phải
thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ con…”
Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio bốn tháng trời thức
thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù phải cay đắng
chịu đựng những lời trách cứ bất công vì hiểu lầm của bố.
Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều truyện rất cảm động như
Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ sát bà
ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi
tìm mẹ sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la,
ngược những dòng sông xa lạ, qua những sa mạc hoang vu,
những núi rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm đau, mê sảng, để cho
người lạ hành hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi, cho kỳ
đến khi gặp lại mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và
gia đình là việc nhà trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó
với thầy, với bạn, với nhà trường lại là việc của gia đình;
dường như De Amicis đã có ý phân công như vậy. Học sinh
kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ họ kính yêu, và vì trong
xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi người kính yêu nữa.
Ngày phát phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc buổi lễ, nhắc
học sinh: “Ra khỏi đây các cháu không được quên gửi một cái
chào và một lời cám ơn đến những người đã vì các cháu mà
không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức
mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu,
những người sống chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông
chỉ tay về phía các cô giáo, thầy giáo.
Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải
thương yêu nhau, và muốn có tình thương yêu chân thành tất
cả phải chống một số tính xấu. Cần dạy trẻ không nên chưng
diện và khoe khoang, Votini vì luôn nghĩ đến mình, nên không
những khoe khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các bạn
nữa, và thầy Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn
ghen tị luồn vào tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc
và làm đồi bại trái tim”. Muốn có tình bạn tất phải để và biết
sống vì bạn: Enrico mời Precossi đến nhà chơi “những muốn
đem biếu cậu tất cả đồ chơi và tất cả sách học của mình, muốn
nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng đang ăn để nhường cậu ăn,
muốn tự lột hết áo quấn để nhường cậu mặc”. Thư ông Bottini
nói với con “tại sao cậu yêu đất nước của cậu” kết thúc rằng
giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc mà con trốn tránh
nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc đau
đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy
Perboni thì cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng:
Cậu bé đánh trống người Sardegna, trong trận Custoza bị đạn
vẫn cố làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa một chân, và trên bàn
mổ không hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người Lombard,
chẳng ở trong quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do
thám tình hình địch cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu
quấn lá cờ ba màu, và nét mặt cậu như đang mỉm cười, sung
sướng và tự hào vì đã hiến đời mình cho xứ Lombardia thân
yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư dạy cơn yêu “thành phố
quê hương của con”, xác định cho con những bổn phận phải
làm ở ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra có giáo dục ở nơi
công cộng là tôn trọng quê hương mình. “Trình độ giáo dục
của một dân tộc có thể đánh giá qua thái độ của con người trên
đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài đường
phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong
các gia đình vậy”.
Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng
học sinh tình thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được
giáo dục lòng nhân đạo. Trong các bạn của Enrico thì Franti là
đứa khốn nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác ấy” ai khóc thì nó
cười, “chẳng động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh xiếc,
đàn bà trẻ con lao động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm,
ông Bottini viết báo ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem
nô nức kéo đến chật rạp, giúp cho gánh xiếc. Biết có người
đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà Bottini liền cùng hai con đến
giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm hôn đứa con người đàn bà
nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho con, bà dạy “đừng
quen thói dửng dưng đi qua trước người nghèo khổ, phải biết
giúp đỡ cụ già không nơi nương tựa, bà mẹ không có bánh ăn,
đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”, nhắc rằng đó là “những
đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện “Cicillo
năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng
tưởng là bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người
bệnh, dù không biết bác ấy là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại
việc Robetti lao mình ra trước chiếc xe đang chạy cứu em bé;
rồi ở lại bệnh viện ra, đi học phải chống nạng như nhảy lò cò.
Một chuyện khác của thầy giáo kể việc Mario đi biển bị đắm
tàu, được xuống xuồng cấp cứu, đã nhường cho người bạn
đường mới quen, vì bạn còn bố mẹ, mà mình thì côi cút, tứ cố
vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn tàu, đầu ngẩng
cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt vời”; việc
hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống trong
xã hội tư bản chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý
lao động tay chân và kính trọng những người lao động, vì “sự
cao quý ở lao động chứ không ở trong đồng lương, ở trong giá
trị chứ không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ phải yêu,
phải kính, trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người
lính trong mặt trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh
của họ. “Phải thương yêu họ vì trong lồng ngực của những
người thợ ấy có những trái tim tuyệt vời”. DeAmicis rất thiệt
thà dạy trẻ ý thức mình đang giữa mọi người. Trong các bài
học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis có thể sánh với Franti vì
nó quá tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã hội Ý thời bấy giờ
nhiều người nghèo khổ, lắm nỗi bất công. Nghĩ đến mùa đông,
ông Bottini, hay chính De Amicis không cầm được lòng
thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có giày,
cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển
thành lòng phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính
là De Amlcis nói với bạn đọc của mình, giọng rít lên đầy uất
hận: “Thật là buồn khi nghĩ rằng có những đàn bà và trẻ em
không có gì mà ăn cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
Dạy trẻ nên dạy thế nào?
Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ
thì vẫn nghiêm khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico
cầm thước kẻ giơ lên, nhưng thấy bạn làm lành, liền ôm chầm
lấy bạn: về nhà kể cho bố nghe, tưởng bố vui lòng, nào ngờ bố
mắng: “Con không được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn
con, dọa con trai của một quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ
làm đôi.
Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn
dù nhỏ, để uốn nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua
trước mặt một người mẹ đói khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng
dưng, bà Bottini viết ngay thư dạy con bổn phận đối với người
nghèo. Ngoài phố, thấy con và phải một người khách qua
đường, ông Bottini viết ngay thư dạy con thái độ trên đường
phố. Nhưng việc giáo dục phải tiến hành rất thận trọng và tế
nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy bàn ghế, ông Bottini ngăn
không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn con gù lưng, ông
cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách cho bạn con
khỏi phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo, không ngờ
đấy lại là nhà bạn con, bà Bottini ngăn không cho con gọi bạn,
sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông thấy chạy ra thì liền đẩy hai trẻ
lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em ruột. Tháng sáu trẻ
ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là có
những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay
bên bờ sông cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt
lúc nào cũng cúi sát lò lửa, phải bắt đầu ngày lao động rất
sớm, và chẳng bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè. Ông Bottini thì
đem con đi thăm những lớp học buổi tối dạy những quân nhân,
những người lao động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục”
thái độ tập trung chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội
dạy trẻ đã đành, người giáo dục lại còn phải tự mình làm
gương, làm mẫu cho trẻ noi theo nữa; muốn con nhớ ơn thầy,
ông Bottini đem con đi tìm thầy học của mình để tỏ lòng biết
ơn.
Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư
luận phê bình khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một
chiều, cách điệu hóa quá thành ra sơ lược, nào là giọng văn
cảm thương quá đáng có khi thành xót xa. Tất nhiên đó là
những chỗ yếu rõ ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người
đánh giá công bằng và đúng đắn nhất - đã công nhận Những
tấm lòng cao cả là tác phẩm có giá trị, không những về nội
dung mà cả về văn chương nữa. De Amicis xây dựng những
truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như Cậu viết thuê, vẫn kết
cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên, mà cách kể truyện
thì linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một vụ đắm tàu làm
người đọc lắm phen hồi hộp, như trong truyện Cậu bé đánh
trống người Sardegna, và nhất là Từ mạch Appennini đến
mạch Andes và Người y tá của Tata.
Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi
không thôi; cậu bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên
mặt gửi lên hai má của ân nhân mình hai cái hôn đáng yêu;
ông đại úy già chưa từng nói với ai một lời dịu dàng bao giờ,
tay đưa từ từ và mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống
người Sardegna, chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu,
siết chặt vào lòng và hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng
với một người anh hùng chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm
liền săn sóc tận tình người ốm không quen biết, đến khi người
bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc quần áo cũ của mình, chầm
chậm bước ra, người mệt lả, lên đường”, và tác giả kết thúc
bằng chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa hừng sáng…”
Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho
người bạn đường được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu
ngắn: “Giulietta úp mặt vào hai tay. Khi cô ngửng đầu lên và
nhìn ra biển, chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng đông vừa
hừng sáng” và “chiếc tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế
thôi, nhưng dù kết cục của truyện người đọc đã đoán biết trước
rồi, đọc đến những câu cuối như thế ít ai có thể để lòng dửng
dưng, và không ít người tuy đã học đi học lại nhiều lần vẫn
khó mà cầm được nước mắt. Văn hay họ phải dải lời. Nhiều
đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm người đọc xúc động
như thế, lại có những đoạn rất thuyết phục vì lời văn hùng hồn,
nhất là những bức thư bố mẹ viết cho con; mà nhiều bức đã
được trích vào sách giáo khoa ở nhiều nước, nổi tiếng hơn cả
là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng nhiều
truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi
chép truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm
rớm nước mắt, run run đôi môi”.
Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người.
Nghệ thuật văn chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục
phải tiến hành có nghệ thuật, và giáo dục chính là một nghệ
thuật. Trong văn học Ý, Những tấm lòng cao cả không giữ địa
vị một đại tác, nhưng trong sự nghiệp giáo dục của một thế
giới thì đã có tác dụng không nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của
tác phẩm, dù cũng có ít nhiều điều không lấy gì làm hay. Mỗi
xã hội, mỗi thời đại giáo dục con em mình theo yêu cầu của
mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản của khoa học giáo dục
của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác phẩm của những
thời đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho tồn tại và lưu
truyền thì vẫn có ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu, tham
khảo.
Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một
trong những tác phẩm như vậy.
Hoàng Thiếu Sơn
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
[2]
Torino thứ hai 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của
chúng tôi đã đi qua như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt
tôi đến phân hiệu Baretti để ghi tên tôi vào lớp ba. Còn tôi thì
mải nhớ thôn quê, tôi đến trường chỉ là miễn cưỡng. Tất cả các
đường phố đều tấp nập học sinh, đông như kiến. Hai cửa hiệu
bán sách chật những bố mẹ học sinh vào mua nào vở, nào giấy
thấm, nào cặp sách bằng da… Trước trường, người đông đến
nỗi ông gác cổng và người cảnh binh đều phải chật vật lắm
mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi sắp bước qua cổng thì
thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là thầy giáo lớp hai của
tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ không bao giờ cạn.
Thầy bảo tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi, phải không
Enrico?”
Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho
lòng tôi nặng trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được
trường. Những ông, những bà, những phụ nữ thường dân,
những công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và những người
giúp việc, ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói,
làm huyên náo cả phòng đợi và các thang gác.
Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với
bảy lớp học, mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi
qua. Người đông nghịt. Các cô giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo
lớp một đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào tôi và nói:
- Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn
thấy con đi qua đây nữa.
Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng,
mà bộ râu hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây
giữa những bà mẹ khá phật ý vì không còn chỗ để cho con họ
vào học nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi lớn lên nhiều. Ở tầng dưới,
học sinh chia xong vào các lớp, người ta thấy các em học
những lớp vỡ lòng không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như
những con lừa con; người ta phải lôi chúng vào; vài em bỏ
chạy không chịu ngồi ghế, nhiều em khác òa lên khóc khi thấy
bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy phải quay lại để khuyến
khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo trông thấy vậy cũng
có nhiều thất vọng.
Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp
thầy giáo Perboni ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi
đều đã vào lớp hết; năm mươi bốn học sinh tất cả. Trong đám
ấy tôi chỉ gặp lại chưa đến mười lăm, mười sáu bạn cũ lớp hai;
trong đó có Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất.
Trường học đối với tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so
với rừng núi mà tôi đã đến ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn
nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi, thầy tốt làm sao, và lúc nào
cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn đến nỗi làm cho chúng
tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc không được thấy
thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có
râu, tóc dài đã hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng
nói rất to; thầy nhìn chúng tôi chằm chằm hết đứa này đến đứa
khác, như muốn đọc rõ tận trong lòng chúng tôi. Thầy không
bao giờ cười.
Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn
những mười tháng nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là
công việc, là bài thi, là khó nhọc!” Tan học, tôi cần phải gặp
mẹ tôi, và tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng lên, Enrico
của mẹ. Mẹ con ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về
nhà. Thôi cũng được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi
cười thế, vui tính thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi
hình như cũng chẳng thích thú bằng năm ngoái… Nhưng thôi
cũng được.
Thầy giáo mới
Thứ ba 18
Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả
chúng tôi đều rất thích.
Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào
chỗ của mình, chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của
thầy năm ngoái, đi qua đều bước vào cửa chào thầy. “Chào
thầy ạ! Chào thầy Perboni ạ!”. Có những cậu bước vào bắt tay
thầy, rồi vội vàng chạy ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất mến
thầy, và rất muốn lại được học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ
thấy trả lời đơn giản: “Chào cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra
phía thầy, nhưng chẳng nhìn ai cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều
nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt quay về phía cửa sổ, nhìn
sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho thầy vui, thì những
sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm cho thầy đau
khổ. Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học trò mới,
hết đứa này đến đứa khác, một cách chăm chú. Vừa đọc chính
tả, thầy vừa bước xuống bục và đi vào giữa các dãy bàn của
chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và đầy những
nốt sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé,
hỏi cậu làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc
đó thì ở sau lưng thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt
đầu múa như con rối.
Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống
và cúi gầm mặt, chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận.
Nhưng thầy Perboni đặt tay lên vai cậu bé dại dột và nói:
“Đừng làm thế nữa nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở về chỗ
và đọc nốt bài chính tả.
Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc,
rồi nói với chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ:
“Nghe đây, các con ạ! Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả
một năm, thầy trò ta đều cố gắng làm sao cho năm nay thật tốt.
Các con phải chăm và ngoan. Thầy không có gia đình. Chính
các con sẽ thay cho gia đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ;
nhưng nay mẹ thầy đã mất rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy
chỉ còn các con trên đời này nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ
nào, tình cảm nào ngoài các con ra. Các con phải là đàn con
của thầy. Thầy sẽ rất thương các con, và các con cũng phải
thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một ai. Các con hãy
tỏ ra cho thầy thấy là những đứa trẻ chân thành, dũng cảm.
Trường học của chúng ta sẽ là một gia đình, và các con sẽ là
niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy không yêu cầu các
con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các con
đều đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
[3]
Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất
cả chúng tôi đều im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng
lên ghế làm trò, bước lại gần thầy, và hỏi thầy giọng run run:
“Thưa thầy, thầy có tha lỗi cho con không ạ?”.
Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi
con về đi”.
Một tai nạn
Thứ sáu 21
Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường
đi học, tôi đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành
của thầy Perboni, thì bỗng thấy đường phố đông nghịt những
người. Họ dừng lại trước cổng trường thị xã. Bố kêu lên:
- Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn
phòng lớn chật ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các
thầy giáo không tài nào cho vào lớp được. Tất cả mọi người
đều nhìn về phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và có người nói:
“Tội nghiệp cậu bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối
phòng lớn, người ta thấy nhô lên trên đám đông cái mũ của
một người cảnh vệ thị xã và cái đầu hói của thầy hiệu trưởng.
Một ông đội mũ cao vừa đi vào, và người ta thì thầm: “Kìa,
bác sĩ”.
Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu
ta”.
Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở
đường phố Dora Grossa để đ...
Edmondo De Amicis
Hoàng Thiếu Sơn dịch
Nhà xuất bản Hội nhà văn 2000
Nguồn: Tve-4u
Tạo ebook lần đầu: motsachgia
Hiệu đính và tạo ebook lần hai: Caruri
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
MỞ ĐẦU
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
Thầy giáo mới
Một tai nạn
Cậu bé xứ Calabria
Các bạn học của tôi
Một hành vi hào hiệp
Cô giáo lớp một trên của tôi
Trong một căn gác xép
Trường học
Cậu bé yêu nước Padova
THÁNG MƯỜI MỘT
Cậu bé nạo ống khói
Bạn Garrone của tôi
Bác bán than với ông quý tộc
Cô giáo của em trai tôi
Mẹ tôi
Bạn Coretti của tôi
Thầy hiệu trưởng
Những người lính
Người bảo vệ Nelli
Người đầu lớp
Cậu bé trinh sát người Lombard
Những người nghèo khổ
THÁNG MƯỜI HAI
Anh chàng kinh doanh
Tính khoe khoang
Tuyết đầu mùa
Cậu bé thợ nề
Quả cầu tuyết
Các cô giáo
Đến nhà người bị thương
ế
Cậu bé viết thuê người Firenze
Nghị lực
Lòng biết ơn
THÁNG GIÊNG
Thầy phụ giáo
Tủ sách của Stardi
Con trai bác thợ rèn
Một buổi thăm nhau lý thú
Franti bị đuổi học
Cậu bé đánh trống người Sardegna
Tình yêu nước
Tính đố kỵ
Bà mẹ Franti
THÁNG HAI
Chiếc huy chương xứng đáng
Quyết tâm đúng đắn
Bộ đồ chơi xe lửa
Tính kiêu ngạo
Những người bị thương tật vì tai nạn lao động
Người tù
Người y tá của tata
Xưởng thợ
Cậu bé làm xiếc
Những trẻ em mù
Thầy giáo ốm
Ngoài đường phố
THÁNG BA
Những lớp học buổi tối
Đánh nhau
Các bố mẹ học sinh
Người số 78
Cậu bé chết
Hôm trước ngày 14 tháng 3
Lễ phát phần thưởng
Một vụ cãi lộn
Máu nóng người Romagna
Cậu bé thợ nề ốm nặng
THÁNG TƯ
Mùa xuân
Vườn trẻ
Buổi thể dục
Thầy giáo của bố
Dưỡng bệnh
Những người bạn thợ thuyền
Bà mẹ Garrone
Phẩm giá công dân
THÁNG NĂM
Hy sinh
Đám cháy
Từ mạch Appennini đến mạch Andes
Mùa hè
Chất thơ
Cô gái câm điếc
THÁNG SÁU
32 độ
Bố tôi
Về đồng quê
Lễ phát phần thưởng cho công nhân
Cái chết của cô giáo tôi
Những lời cảm ơn
Một vụ đắm tàu
THÁNG BẢY
Trang thư cuối cùng của mẹ tôi
Các buổi thi
Buổi thi cuối cùng
Từ biệt
[1]
MỞ ĐẦU
Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy
ai không biết nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn
được trẻ em yêu thích ấy lại không phải là người chuyên viết
sách về trẻ em hay cho trẻ em.
De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia,
xứ Liguria, trên bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải
phóng và thống nhất Ý bắt đầu từ năm 1820, đến năm 1870
mới hoàn thành là phong trào dân tộc lớn nhất lịch sử châu u
trong thế kỷ XIX. Khi trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm
lược Áo trong cách mạng 1848 diễn ra thì chú bé Edmondo
chưa được hai tuổi; nhưng trận Custoza thứ hai diễn ra, thì
người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy hai mươi tuổi De
Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24 tháng sáu 1866
ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ quân đội Ý.
Người thanh niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm sau tác
phẩm đầu tay ra đời, tập hợp một số truyện vừa dưới nhan đề
Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc
đời quân ngũ” đi du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể
tài khác: thể du ký. Và các tác phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây
Ban Nha (1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876),
Constantinopolis (1878-79) và cuốn Chân dung văn hào
(Ritratti letterari, 1881) được viết để tỏ lòng ngưỡng mộ
những nhà văn lớn đương thời.
Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất
nghèo, công nghiệp chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích
mênh mông, dân số tăng nhanh, người Ý phải di cư rất nhiều
đến đất khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung bình hơn nửa
triệu, có năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn
đề rất lớn trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và
đầu tiên lấy làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương
(Sull'oceano). Năm sau, 1890, lại tiếp theo cuốn Truyện một
người chủ (Il romanzo d'un maestro).
Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và
người theo chủ nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia
nông dân tổ chức những hiệp hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu
nổi dậy. Không sống bàng quan, ngay năm 1891 De Amicis đã
tham gia Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế, và
từ đấy đấu tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời
sống của người nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến
thành chiến sĩ, diễn thuyết khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn
đề xã hội; sau thu nhập những diễn văn ấy xuất bản thành tập
Vấn đề xã hội (Questione sociale, l894). Đảng mình bị khủng
bố dữ, De Amicis vẫn chiến đấu không ngừng. Những cuộc
nổi dậy của quần chúng nghèo khổ và những đợt đàn áp của
chính quyền tư sản đều được lấy làm đề tài cho luận văn chính
trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy
đã chiến đấu cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài
bốn mươi tuổi lại phải đấu tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi
của công bằng xã hội; và De Amicis qua đời ở Bordighera tỉnh
Genova, ngày 12 tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61 tuổi.
Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis
chuyên viết du ký và phê bình văn học, một nửa viết về các
chủ đề chính trị và xã hội, tác phẩm để lại cũng khá nhiều và
sinh thời của tác giả cũng gây ra tiếng vang không ít; nhưng
mà thành công nhất có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ
nhàng, thoải mái, tựa hồ chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công
phu, nhiều nhiệt tình như mọi cuốn khác: Những người bạn dí
dỏm, thân mật, đầy lòng thương người, và nhất là Tấm lòng
(Cuore) mà thế giới quen gọi là Những tấm lòng cao cả, ra đời
vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và gần một trăm năm
nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế giới. Nhưng
được như vậy chính là vì cuốn Cuore ấy mang một hoài bão
thiết tha của tác giả, “bấy lâu nay một chút lòng…”
Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại
những việc lớn nhỏ diễn ra trong đời học sinh của cậu, những
cảm tưởng và suy nghĩ của cậu thành một cuốn nhật ký. Mỗi
tháng, thầy giáo cho phép một truyện để đọc trong lớp, mỗi
tháng, bố hay mẹ viết cho con một lá thư; các thư và truyện ấy
đều được xếp vào cuốn nhật ký. Ghi chép trong mười tháng,
đó là một cuốn truyện nhỏ về năm học của cậu bé mười một
tuổi.
Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn
học của Enrico, là bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi
người một vẻ, có một đặc điểm nhất định về mặt thể chất hay
tinh thần, nhất là các bạn của Enrico. Tính cách các nhân vật
đã được cách điệu hóa để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là
một thói quen, vì đấy không phải là một tác phẩm phản ánh
nền giáo dục ở nước Ý cuối thế kỷ XIX, mà là một tác phẩm
mượn hình tượng nghệ thuật để trình bày những điều suy nghĩ
về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác giả mang trong óc
như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài bão. Trong các
trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi những việc
mà ở trường có vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn chép cả
những việc ở nhà có vai trò của bố mẹ mình, lại cũng không
bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham gia của người
ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn dạy
đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường,
của gia đình và của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải
thương yêu học trò. Coretti vác củi từ năm giờ sáng, vào lớp
ngủ thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới đánh thức dậy,
rồi ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy
không mắng đâu. Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải
làm lụng nhiều”. Cuối năm, học sinh thi đều khá; để làm cho
họ vui, thầy giáo tóc đã hoa râm và không bao giờ cười ấy lại
làm bộ trượt chân, phải bám vào tường cho khỏi ngã. Phải
chăng đó là “cái phút vui độc nhất của thầy? một sự đền bù
cho chín tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và phiền muộn
nữa?” Enrico ghi vào nhật ký như thế. Thầy có vật kỷ niệm là
ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi năm thầy treo đầu
giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của thầy
sẽ quay về họ”.
Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn
nghỉ - ở nước Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về
hưu, vì kinh nghiệm và lương tâm của nhà giáo càng thâm
niên càng được xã hội quý trọng - nhưng vì run tay trót đánh
rơi một giọt mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải xin
về. Và cụ tâm sự: “Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi
hiểu rằng cuộc đời với tôi như vậy là hết rồi, không có trường
học nữa, không còn có sức trẻ nữa, tôi cũng không sống được
bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận tụy với nghề, cụ giáo
Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm ván tồi tàn làm
giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn, khiến cho
học trò đã hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó là tất
cả phần thưởng của thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem
nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của mình. Và ở trường học
cũng có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô giáo lớp
một trên của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn
luôn át cả lớp học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không
thể lơ đễnh được. Cô có thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy,
nhưng không muốn xa học trò, cô cứ dạy cho hết năm, và cô
đã mất ba ngày trước khi dạy hết chương trình.
Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy
nhanh ra khỏi lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có
trên đời, và trước khi chết, yêu cầu thầy hiệu trưởng đừng cho
học trò đi theo đám tang, sợ các em khóc. Qua bút mực của trẻ
con, De Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề
dạy học, với những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có
vài nét chấm phá, nhưng không dễ mà quên được. Trong gia
đình Enrico, tháng nào bố hay mẹ cũng viết cho con một lá
thư, không phải vì đi đâu gửi về, mà ở ngay trong nhà viết đưa
cho con đọc và suy nghĩ; thư thì khuyên răn, thư thì cảnh cáo,
có khi là trách mắng. Đó là những trường hợp phải “nói
chuyện” với con một cách trang nghiêm. Trong một xã hội văn
minh, những người bố, mẹ không phải chỉ là trông nom, săn
sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con người khác, đến
trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả “những
người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút
của trẻ để nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm
lòng cao cả không phải chỉ là một cuốn sách riêng dành cho
thiếu nhi, mà lại còn là một cuốn sách viết cho cô giáo, thầy
giáo cho bố mẹ học sinh và cho những người lớn trong xã hội
nữa.
Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói
gì về vấn đề dạy dỗ con trẻ?
Dạy trẻ nên dạy những gì?
Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi
cho mình, hay là chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua
lời Garrone khuyên Garoffi thú tội, rồi lời ông Bottini dạy con,
mấy lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận. Trong các tính
xấu, De Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy
Perboni hiền từ như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại
đánh Crossi, đã phải nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi
làm một việc hèn hạ nhất và nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ
lương tâm con người: các cậu là những kẻ hèn nhát!” Lạm
dụng lòng tốt của người khác cũng là hèn: khi cả lớp làm ồn
trong giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone chỉnh các bạn: “Các
cậu lạm dụng lòng tốt của thầy, việc làm của các cậu hèn nhát
lắm”.
Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên
hình ảnh trẻ em tất cả các nước trên thế giới đi đến trường học
như một đạo quân lớn, để khuyên con: “Đừng bao giờ làm một
người lính nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng lười biếng
cũng là hèn nhát vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn
phận học tập. Trong bức thư viết cho Enrico, không có lá thư
nào của ông bà Bottini mà nghiêm khắc như hai bức thư trách
mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói với bố mẹ. “Thà rằng bố phải
thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ con…”
Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio bốn tháng trời thức
thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù phải cay đắng
chịu đựng những lời trách cứ bất công vì hiểu lầm của bố.
Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều truyện rất cảm động như
Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ sát bà
ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi
tìm mẹ sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la,
ngược những dòng sông xa lạ, qua những sa mạc hoang vu,
những núi rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm đau, mê sảng, để cho
người lạ hành hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi, cho kỳ
đến khi gặp lại mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và
gia đình là việc nhà trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó
với thầy, với bạn, với nhà trường lại là việc của gia đình;
dường như De Amicis đã có ý phân công như vậy. Học sinh
kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ họ kính yêu, và vì trong
xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi người kính yêu nữa.
Ngày phát phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc buổi lễ, nhắc
học sinh: “Ra khỏi đây các cháu không được quên gửi một cái
chào và một lời cám ơn đến những người đã vì các cháu mà
không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức
mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu,
những người sống chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông
chỉ tay về phía các cô giáo, thầy giáo.
Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải
thương yêu nhau, và muốn có tình thương yêu chân thành tất
cả phải chống một số tính xấu. Cần dạy trẻ không nên chưng
diện và khoe khoang, Votini vì luôn nghĩ đến mình, nên không
những khoe khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các bạn
nữa, và thầy Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn
ghen tị luồn vào tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc
và làm đồi bại trái tim”. Muốn có tình bạn tất phải để và biết
sống vì bạn: Enrico mời Precossi đến nhà chơi “những muốn
đem biếu cậu tất cả đồ chơi và tất cả sách học của mình, muốn
nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng đang ăn để nhường cậu ăn,
muốn tự lột hết áo quấn để nhường cậu mặc”. Thư ông Bottini
nói với con “tại sao cậu yêu đất nước của cậu” kết thúc rằng
giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc mà con trốn tránh
nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc đau
đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy
Perboni thì cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng:
Cậu bé đánh trống người Sardegna, trong trận Custoza bị đạn
vẫn cố làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa một chân, và trên bàn
mổ không hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người Lombard,
chẳng ở trong quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do
thám tình hình địch cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu
quấn lá cờ ba màu, và nét mặt cậu như đang mỉm cười, sung
sướng và tự hào vì đã hiến đời mình cho xứ Lombardia thân
yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư dạy cơn yêu “thành phố
quê hương của con”, xác định cho con những bổn phận phải
làm ở ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra có giáo dục ở nơi
công cộng là tôn trọng quê hương mình. “Trình độ giáo dục
của một dân tộc có thể đánh giá qua thái độ của con người trên
đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài đường
phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong
các gia đình vậy”.
Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng
học sinh tình thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được
giáo dục lòng nhân đạo. Trong các bạn của Enrico thì Franti là
đứa khốn nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác ấy” ai khóc thì nó
cười, “chẳng động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh xiếc,
đàn bà trẻ con lao động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm,
ông Bottini viết báo ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem
nô nức kéo đến chật rạp, giúp cho gánh xiếc. Biết có người
đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà Bottini liền cùng hai con đến
giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm hôn đứa con người đàn bà
nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho con, bà dạy “đừng
quen thói dửng dưng đi qua trước người nghèo khổ, phải biết
giúp đỡ cụ già không nơi nương tựa, bà mẹ không có bánh ăn,
đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”, nhắc rằng đó là “những
đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện “Cicillo
năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng
tưởng là bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người
bệnh, dù không biết bác ấy là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại
việc Robetti lao mình ra trước chiếc xe đang chạy cứu em bé;
rồi ở lại bệnh viện ra, đi học phải chống nạng như nhảy lò cò.
Một chuyện khác của thầy giáo kể việc Mario đi biển bị đắm
tàu, được xuống xuồng cấp cứu, đã nhường cho người bạn
đường mới quen, vì bạn còn bố mẹ, mà mình thì côi cút, tứ cố
vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn tàu, đầu ngẩng
cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt vời”; việc
hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống trong
xã hội tư bản chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý
lao động tay chân và kính trọng những người lao động, vì “sự
cao quý ở lao động chứ không ở trong đồng lương, ở trong giá
trị chứ không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ phải yêu,
phải kính, trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người
lính trong mặt trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh
của họ. “Phải thương yêu họ vì trong lồng ngực của những
người thợ ấy có những trái tim tuyệt vời”. DeAmicis rất thiệt
thà dạy trẻ ý thức mình đang giữa mọi người. Trong các bài
học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis có thể sánh với Franti vì
nó quá tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã hội Ý thời bấy giờ
nhiều người nghèo khổ, lắm nỗi bất công. Nghĩ đến mùa đông,
ông Bottini, hay chính De Amicis không cầm được lòng
thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có giày,
cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển
thành lòng phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính
là De Amlcis nói với bạn đọc của mình, giọng rít lên đầy uất
hận: “Thật là buồn khi nghĩ rằng có những đàn bà và trẻ em
không có gì mà ăn cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
Dạy trẻ nên dạy thế nào?
Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ
thì vẫn nghiêm khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico
cầm thước kẻ giơ lên, nhưng thấy bạn làm lành, liền ôm chầm
lấy bạn: về nhà kể cho bố nghe, tưởng bố vui lòng, nào ngờ bố
mắng: “Con không được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn
con, dọa con trai của một quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ
làm đôi.
Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn
dù nhỏ, để uốn nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua
trước mặt một người mẹ đói khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng
dưng, bà Bottini viết ngay thư dạy con bổn phận đối với người
nghèo. Ngoài phố, thấy con và phải một người khách qua
đường, ông Bottini viết ngay thư dạy con thái độ trên đường
phố. Nhưng việc giáo dục phải tiến hành rất thận trọng và tế
nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy bàn ghế, ông Bottini ngăn
không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn con gù lưng, ông
cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách cho bạn con
khỏi phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo, không ngờ
đấy lại là nhà bạn con, bà Bottini ngăn không cho con gọi bạn,
sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông thấy chạy ra thì liền đẩy hai trẻ
lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em ruột. Tháng sáu trẻ
ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là có
những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay
bên bờ sông cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt
lúc nào cũng cúi sát lò lửa, phải bắt đầu ngày lao động rất
sớm, và chẳng bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè. Ông Bottini thì
đem con đi thăm những lớp học buổi tối dạy những quân nhân,
những người lao động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục”
thái độ tập trung chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội
dạy trẻ đã đành, người giáo dục lại còn phải tự mình làm
gương, làm mẫu cho trẻ noi theo nữa; muốn con nhớ ơn thầy,
ông Bottini đem con đi tìm thầy học của mình để tỏ lòng biết
ơn.
Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư
luận phê bình khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một
chiều, cách điệu hóa quá thành ra sơ lược, nào là giọng văn
cảm thương quá đáng có khi thành xót xa. Tất nhiên đó là
những chỗ yếu rõ ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người
đánh giá công bằng và đúng đắn nhất - đã công nhận Những
tấm lòng cao cả là tác phẩm có giá trị, không những về nội
dung mà cả về văn chương nữa. De Amicis xây dựng những
truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như Cậu viết thuê, vẫn kết
cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên, mà cách kể truyện
thì linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một vụ đắm tàu làm
người đọc lắm phen hồi hộp, như trong truyện Cậu bé đánh
trống người Sardegna, và nhất là Từ mạch Appennini đến
mạch Andes và Người y tá của Tata.
Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi
không thôi; cậu bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên
mặt gửi lên hai má của ân nhân mình hai cái hôn đáng yêu;
ông đại úy già chưa từng nói với ai một lời dịu dàng bao giờ,
tay đưa từ từ và mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống
người Sardegna, chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu,
siết chặt vào lòng và hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng
với một người anh hùng chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm
liền săn sóc tận tình người ốm không quen biết, đến khi người
bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc quần áo cũ của mình, chầm
chậm bước ra, người mệt lả, lên đường”, và tác giả kết thúc
bằng chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa hừng sáng…”
Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho
người bạn đường được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu
ngắn: “Giulietta úp mặt vào hai tay. Khi cô ngửng đầu lên và
nhìn ra biển, chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng đông vừa
hừng sáng” và “chiếc tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế
thôi, nhưng dù kết cục của truyện người đọc đã đoán biết trước
rồi, đọc đến những câu cuối như thế ít ai có thể để lòng dửng
dưng, và không ít người tuy đã học đi học lại nhiều lần vẫn
khó mà cầm được nước mắt. Văn hay họ phải dải lời. Nhiều
đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm người đọc xúc động
như thế, lại có những đoạn rất thuyết phục vì lời văn hùng hồn,
nhất là những bức thư bố mẹ viết cho con; mà nhiều bức đã
được trích vào sách giáo khoa ở nhiều nước, nổi tiếng hơn cả
là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng nhiều
truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi
chép truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm
rớm nước mắt, run run đôi môi”.
Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người.
Nghệ thuật văn chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục
phải tiến hành có nghệ thuật, và giáo dục chính là một nghệ
thuật. Trong văn học Ý, Những tấm lòng cao cả không giữ địa
vị một đại tác, nhưng trong sự nghiệp giáo dục của một thế
giới thì đã có tác dụng không nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của
tác phẩm, dù cũng có ít nhiều điều không lấy gì làm hay. Mỗi
xã hội, mỗi thời đại giáo dục con em mình theo yêu cầu của
mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản của khoa học giáo dục
của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác phẩm của những
thời đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho tồn tại và lưu
truyền thì vẫn có ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu, tham
khảo.
Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một
trong những tác phẩm như vậy.
Hoàng Thiếu Sơn
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
[2]
Torino thứ hai 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của
chúng tôi đã đi qua như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt
tôi đến phân hiệu Baretti để ghi tên tôi vào lớp ba. Còn tôi thì
mải nhớ thôn quê, tôi đến trường chỉ là miễn cưỡng. Tất cả các
đường phố đều tấp nập học sinh, đông như kiến. Hai cửa hiệu
bán sách chật những bố mẹ học sinh vào mua nào vở, nào giấy
thấm, nào cặp sách bằng da… Trước trường, người đông đến
nỗi ông gác cổng và người cảnh binh đều phải chật vật lắm
mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi sắp bước qua cổng thì
thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là thầy giáo lớp hai của
tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ không bao giờ cạn.
Thầy bảo tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi, phải không
Enrico?”
Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho
lòng tôi nặng trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được
trường. Những ông, những bà, những phụ nữ thường dân,
những công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và những người
giúp việc, ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói,
làm huyên náo cả phòng đợi và các thang gác.
Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với
bảy lớp học, mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi
qua. Người đông nghịt. Các cô giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo
lớp một đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào tôi và nói:
- Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn
thấy con đi qua đây nữa.
Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng,
mà bộ râu hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây
giữa những bà mẹ khá phật ý vì không còn chỗ để cho con họ
vào học nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi lớn lên nhiều. Ở tầng dưới,
học sinh chia xong vào các lớp, người ta thấy các em học
những lớp vỡ lòng không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như
những con lừa con; người ta phải lôi chúng vào; vài em bỏ
chạy không chịu ngồi ghế, nhiều em khác òa lên khóc khi thấy
bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy phải quay lại để khuyến
khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo trông thấy vậy cũng
có nhiều thất vọng.
Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp
thầy giáo Perboni ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi
đều đã vào lớp hết; năm mươi bốn học sinh tất cả. Trong đám
ấy tôi chỉ gặp lại chưa đến mười lăm, mười sáu bạn cũ lớp hai;
trong đó có Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất.
Trường học đối với tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so
với rừng núi mà tôi đã đến ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn
nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi, thầy tốt làm sao, và lúc nào
cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn đến nỗi làm cho chúng
tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc không được thấy
thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có
râu, tóc dài đã hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng
nói rất to; thầy nhìn chúng tôi chằm chằm hết đứa này đến đứa
khác, như muốn đọc rõ tận trong lòng chúng tôi. Thầy không
bao giờ cười.
Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn
những mười tháng nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là
công việc, là bài thi, là khó nhọc!” Tan học, tôi cần phải gặp
mẹ tôi, và tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng lên, Enrico
của mẹ. Mẹ con ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về
nhà. Thôi cũng được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi
cười thế, vui tính thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi
hình như cũng chẳng thích thú bằng năm ngoái… Nhưng thôi
cũng được.
Thầy giáo mới
Thứ ba 18
Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả
chúng tôi đều rất thích.
Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào
chỗ của mình, chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của
thầy năm ngoái, đi qua đều bước vào cửa chào thầy. “Chào
thầy ạ! Chào thầy Perboni ạ!”. Có những cậu bước vào bắt tay
thầy, rồi vội vàng chạy ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất mến
thầy, và rất muốn lại được học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ
thấy trả lời đơn giản: “Chào cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra
phía thầy, nhưng chẳng nhìn ai cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều
nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt quay về phía cửa sổ, nhìn
sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho thầy vui, thì những
sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm cho thầy đau
khổ. Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học trò mới,
hết đứa này đến đứa khác, một cách chăm chú. Vừa đọc chính
tả, thầy vừa bước xuống bục và đi vào giữa các dãy bàn của
chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và đầy những
nốt sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé,
hỏi cậu làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc
đó thì ở sau lưng thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt
đầu múa như con rối.
Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống
và cúi gầm mặt, chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận.
Nhưng thầy Perboni đặt tay lên vai cậu bé dại dột và nói:
“Đừng làm thế nữa nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở về chỗ
và đọc nốt bài chính tả.
Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc,
rồi nói với chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ:
“Nghe đây, các con ạ! Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả
một năm, thầy trò ta đều cố gắng làm sao cho năm nay thật tốt.
Các con phải chăm và ngoan. Thầy không có gia đình. Chính
các con sẽ thay cho gia đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ;
nhưng nay mẹ thầy đã mất rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy
chỉ còn các con trên đời này nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ
nào, tình cảm nào ngoài các con ra. Các con phải là đàn con
của thầy. Thầy sẽ rất thương các con, và các con cũng phải
thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một ai. Các con hãy
tỏ ra cho thầy thấy là những đứa trẻ chân thành, dũng cảm.
Trường học của chúng ta sẽ là một gia đình, và các con sẽ là
niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy không yêu cầu các
con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các con
đều đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
[3]
Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất
cả chúng tôi đều im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng
lên ghế làm trò, bước lại gần thầy, và hỏi thầy giọng run run:
“Thưa thầy, thầy có tha lỗi cho con không ạ?”.
Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi
con về đi”.
Một tai nạn
Thứ sáu 21
Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường
đi học, tôi đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành
của thầy Perboni, thì bỗng thấy đường phố đông nghịt những
người. Họ dừng lại trước cổng trường thị xã. Bố kêu lên:
- Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn
phòng lớn chật ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các
thầy giáo không tài nào cho vào lớp được. Tất cả mọi người
đều nhìn về phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và có người nói:
“Tội nghiệp cậu bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối
phòng lớn, người ta thấy nhô lên trên đám đông cái mũ của
một người cảnh vệ thị xã và cái đầu hói của thầy hiệu trưởng.
Một ông đội mũ cao vừa đi vào, và người ta thì thầm: “Kìa,
bác sĩ”.
Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu
ta”.
Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở
đường phố Dora Grossa để đ...
 





